Hiển thị các bài đăng có nhãn Bs Nguyễn Ý Đức. Hiển thị tất cả bài đăng
Hiển thị các bài đăng có nhãn Bs Nguyễn Ý Đức. Hiển thị tất cả bài đăng

Thứ Ba, 21 tháng 12, 2021

Uống dầu cá có thể ngăn ngừa bệnh nguy hiểm nào?

 

Uống  dầu  cá  có  thể  ngăn  ngừa  bệnh  nguy  hiểm  nào?

LĐO | 22/11/2021

Bổ sung dầu cá là cách tuyệt vời để tăng lượng dinh dưỡng cho cơ thể. Ảnh minh họa. Đồ họa: B.C

Bổ sung dầu cá là cách tuyệt vời để tăng lượng dinh dưỡng cho cơ thể khi khó có thể đảm bảo ăn uống lành mạnh trong tuần.

Theo WebMD, các chất bổ sung dầu cá có chứa axit béo omega-3, giúp giảm sự hình thành cục máu đông và giảm viêm trong cơ thể.

Giảm nguy cơ mắc bệnh tăng nhãn áp

Bệnh tăng nhãn áp là nguyên nhân hàng đầu gây chứng mù lòa. Sự hiện diện của vitamin A trong dầu cá có tác dụng ngăn ngừa tổn thương tế bào do quá trình ôxy hóa, từ đó ngăn chặn sự phát triển của bệnh tăng nhãn áp.

Nguyên nhân là do chất dịch tích tụ ở phía trước mắt, làm tăng áp lực bên trong mắt dẫn đến mờ mắt. Đôi khi, bệnh tăng nhãn áp có thể dẫn đến đau mắt, buồn nôn, mắt đỏ, đau đầu, viêm phúc mạc quanh mắt.

Ngăn ngừa bệnh đa xơ cứng

Bổ sung dầu cá cũng có thể giúp ngăn ngừa bệnh đa xơ cứng, do có liên quan đến mức vitamin D thấp.

Ngăn ngừa bệnh viêm khớp dạng thấp bùng phát

Một nghiên cứu kéo dài 24 tuần cho thấy những người bổ sung dầu cá báo cáo điểm số cơn đau thấp hơn và sử dụng thuốc giảm đau ít hơn. Ngoài ra, dầu cá còn giúp những người bị viêm khớp dạng thấp đối phó với chứng đau khớp.

Lưu ý rằng trước khi dùng bất kỳ loại bổ sung nào, tốt nhất bạn nên thảo luận với bác sĩ.

Ngăn ngừa ung thư

Dầu cá chứa cả vitamin A và axit béo omega-3, nên nó có khả năng chống lại ung thư.

Dầu cá ngăn ngừa sự hình thành sự phát triển của các mạch máu mới nuôi các khối u ung thư phát triển. Trong đó, phá vỡ quá trình hình thành mạch máu sẽ cản trở sự phát triển của khối u, từ đó ức chế sự phát triển của tế bào ung thư.

BẠCH CÚC

Thứ Hai, 25 tháng 10, 2021

CƠ THỂ BỊ TẤN CÔNG

 

CƠ  THỂ  BỊ  TẤN  CÔNG

*A - Các bệnh chính của cơ thể là gì?

Cơ thể con người là nạn nhân của cả ngàn thứ bệnh.  Và có nhiều cách để phân loại chúng. Một trong những cách này là chia chúng ra thành từng loại một tùy theo nguyên nhân. Đó là:

1-      Bệnh do vi trùng gây ra như sốt thấp khớp, thương hàn, lao, bệnh dịch tả và ngộ độc thực phẩm;

2-      Bệnh do siêu vi trùng gây ra như tê liệt trẻ em, bệnh ban đào, cúm và bệnh cảm lạnh;

3-      Bệnh do ký sinh trùng như bệnh gây ra do các loại nấm, giun, và các đơn bào như bệnh amibe.

Đó là những bệnh gây ra do nguyên nhân từ ngoài.

1. Bệnh gây ra do dinh dưỡng như thiếu sinh tố cho tới bệnh kwashiorkor vì thiếu chất đạm làm cho cơ thể cháu bé bị tiêu hủy và gây ra ảnh hưởng trầm trọng cho sức khỏe.

2. Các bệnh gây ra do những nguyên nhân đến từ cơ thể như  u bướu và ung thư;

3. Bệnh tự miễn như viêm khớp dạng thấp;

4. Bệnh về tuyến nội tiết như tiểu đường;

5. Bênh gây ra do gene có ngay khi mới sanh như trong hội chứng Down và bệnh hồng cầu liềm;

6. Bệnh gây ra do sự thoái hóa như mất thính giác, thị giác rất thông thường ở người cao tuổi;

7. Các bệnh về hóa chất và vật chất gây thương tích như phỏng, ngã và các tai nạn khác;

8. Các bệnh do dùng dược phẩm.

 **B. Các bệnh do ký sinh trùng có gây ra thiệt mạng không?

Ký sinh trùng là một sinh vật sống ở một cơ thể khác và lấy chất dinh dưỡng, hoặc đầu độc cũng như tiêu hủy các mô bào của chúng.Các bệnh này có thể nhỏ li ti như các động vật đơn bào gây ra từ bệnh sốt rét tới bệnh sán dây có thể dài cả mấy thước.

Một số bệnh ký sinh trùng đều ít nghiêm trọng như bệnh nấm ở chân các lực sĩ và các bệnh khác rất nặng đôi khi gây ra chết, chẳng hạn bệnh sốt rét là bệnh làm nhiều người trên thế giới bị tử thần mang đi. Tuy nhiên đa số bênh do ký sinh trùng không giết người. Nếu có thì tự chúng sẽ chết và bệnh không còn nữa. Thực vậy bệnh này và thân chủ sống chung với nhau vì khi cơ thể khỏe và chịu được các tổn thương do chúng gây ra.

Ở đâu có dinh dưỡng tốt thì cơ thể của ta chống lại các bệnh gây ra do ký sinh trùng. Và ngược lại khi kém dinh dưỡng và nghèo thì các bệnh gây ra do ký sinh trùng đều rất nguy hiểm.

***C- Các bệnh truyền nhiễm infectious diseases và bị nhiễm trùng contagious diseases có giống nhau không?

Có nhiều người dùng hai chữ này rất tùy tiện nhưng  cần phân biệt rõ.

Chữ truyền nhiễm dùng để chỉ những bệnh truyền từ các con vật, người hoặc thực phẩm có vi trùng.

Còn chữ nhiễm trùng là một từ có nghĩa hẹp được dùng để chỉ các bệnh truyền trực tiếp từ người này sang người khác.

Cả hai loại bệnh này đều do các sinh vật nhỏ chỉ nhìn thấy qua kính hiển vi.

Các bệnh không gây ra do các vật còn sống như bệnh đa sơ cứng, đều không truyền được.

Bệnh dịch hạch thể hạch hoặc Tử Thần Đen Black Death đã tiêu diệt một phần ba dân chúng Âu châu vào thế kỷ thứ 14 là một bệnh thiên về truyền nhiễm hơn là nhiễm trùng. Dân chúng mang bệnh khi bị cắn bởi những con bọ chét đã bị bệnh với vi khuẩn bệnh từ các con chuột mà chúng sống như những loại ký sinh trùng, dù rằng có thể từ người sang người như là bệnh dịch hạch phổi.

Bệnh dại là những bệnh truyền nhiễm khác. Một người bị bệnh dại không gây ra nguy hiểm cho ai. Ta có thê bị bệnh dại khi bị một con vật như chó, dơi hoặc các thú vật khác.

Ngược lại, cúm là bệnh truyền nhiễm vì chúng lan xa và cũng là bệnh nhiễm trùng vì bệnh này lan ra xa qua những giọt nước chứa siêu vi trùng mà người khác nhận được.

 ****D Có gì khác nhau giữa cấp tính và kinh niên?

Khó tiêu cấp tính và viêm ruột dư là các chữ khá quen thuộc.

Cũng như các bệnh cấp tính khác, cả hai bệnh này đều xẩy ra bất thình lình với các triệu chứng rất quan trọng.

Khó tiêu rồi sẽ hết còn nạn nhân bị bệnh ruột dư lại phải cấp tốc vào phông cấp cứu để mổ.

Bệnh kinh niên như viêm khớp hoặc vữa xơ động mạch xẩy ra từ từ và kéo dài cả mấy năm.

Một số bệnh như sốt rét được coi như xẩy ra nhiều lần liên tiếp bởi vì không có các triệu chứng xen lẫn với thời kỳ có bệnh./.

Bác sĩ Nguyễn Ý Đức /cn

Thứ Hai, 18 tháng 10, 2021

CƠ THỂ BỊ TẤN CÔNG

 

CƠ  THỂ  BỊ  TẤN  CÔNG

*A -Các bệnh chính của cơ thể là gì?

Cơ thể con người là nạn nhân của cả ngàn thứ bệnh.  Và có nhiều cách để phân loại chúng. Một trong những cách này là chia chúng ra thành từng loại một tùy theo nguyên nhân. Đó là:

1-      Bệnh do vi trùng gây ra như sốt thấp khớp, thương hàn, lao, bệnh dịch tả và ngộ độc thực phẩm;

2-      Bệnh do siêu vi trùng gây ra như tê liệt trẻ em, bệnh ban đào, cúm và bệnh cảm lạnh;

3-      Bệnh do ký sinh trùng như bệnh gây ra do các loại nấm, giun, và các đơn bào như bệnh amibe.

Đó là những bệnh gây ra do nguyên nhân từ ngoài.

1. Bệnh gây ra do dinh dưỡng như thiếu sinh tố cho tới bệnh kwashiorkor vì thiếu chất đạm làm cho cơ thể cháu bé bị tiêu hủy và gây ra ảnh hưởng trầm trọng cho sức khỏe.

2. Các bệnh gây ra do những nguyên nhân đến từ cơ thể như  u bướu và ung thư;

3. Bệnh tự miễn như viêm khớp dạng thấp;

4. Bệnh về tuyến nội tiết như tiểu đường;

5. Bênh gây ra do gene có ngay khi mới sanh như trong hội chứng Down và bệnh hồng cầu liềm;

6. Bệnh gây ra do sự thoái hóa như mất thính giác, thị giác rất thông thường ở người cao tuổi;

7. Các bệnh về hóa chất và vật chất gây thương tích như phỏng, ngã và các tai nạn khác;

8. Các bệnh do dùng dược phẩm.

**B. Các bệnh do ký sinh trùng có gây ra thiệt mạng không?

Ký sinh trùng là một sinh vật sống ở một cơ thể khác và lấy chất dinh dưỡng, hoặc đầu độc cũng như tiêu hủy các mô bào của chúng.Các bệnh này có thể nhỏ li ti như các động vật đơn bào gây ra từ bệnh sốt rét tới bệnh sán dây có thể dài cả mấy thước.

Một số bệnh ký sinh trùng đều ít nghiêm trọng như bệnh nấm ở chân các lực sĩ và các bệnh khác rất nặng đôi khi gây ra chết, chẳng hạn bệnh sốt rét là bệnh làm nhiều người trên thế giới bị tử thần mang đi. Tuy nhiên đa số bênh do ký sinh trùng không giết người. Nếu có thì tự chúng sẽ chết và bệnh không còn nữa. Thực vậy bệnh này và thân chủ sống chung với nhau vì khi cơ thể khỏe và chịu được các tổn thương do chúng gây ra.

Ở đâu có dinh dưỡng tốt thì cơ thể của ta chống lại các bệnh gây ra do ký sinh trùng. Và ngược lại khi kém dinh dưỡng và nghèo thì các bệnh gây ra do ký sinh trùng đều rất nguy hiểm.

***C- Các bệnh truyền nhiễm infectious diseases và bị nhiễm trùng contagious diseases có giống nhau không?

Có nhiều người dùng hai chữ này rất tùy tiện nhưng  cần phân biệt rõ.

Chữ truyền nhiễm dùng để chỉ những bệnh truyền từ các con vật, người hoặc thực phẩm có vi trùng.

Còn chữ nhiễm trùng là một từ có nghĩa hẹp được dùng để chỉ các bệnh truyền trực tiếp từ người này sang người khác.

Cả hai loại bệnh này đều do các sinh vật nhỏ chỉ nhìn thấy qua kính hiển vi.

Các bệnh không gây ra do các vật còn sống như bệnh đa sơ cứng, đều không truyền được.

Bệnh dịch hạch thể hạch hoặc Tử Thần Đen Black Death đã tiêu diệt một phần ba dân chúng Âu châu vào thế kỷ thứ 14 là một bệnh thiên về truyền nhiễm hơn là nhiễm trùng. Dân chúng mang bệnh khi bị cắn bởi những con bọ chét đã bị bệnh với vi khuẩn bệnh từ các con chuột mà chúng sống như những loại ký sinh trùng, dù rằng có thể từ người sang người như là bệnh dịch hạch phổi.

Bệnh dại là những bệnh truyền nhiễm khác. Một người bị bệnh dại không gây ra nguy hiểm cho ai. Ta có thê bị bệnh dại khi bị một con vật như chó, dơi hoặc các thú vật khác.

Ngược lại, cúm là bệnh truyền nhiễm vì chúng lan xa và cũng là bệnh nhiễm trùng vì bệnh này lan ra xa qua những giọt nước chứa siêu vi trùng mà người khác nhận được.

****D Có gì khác nhau giữa cấp tính và kinh niên?

Khó tiêu cấp tính và viêm ruột dư là các chữ khá quen thuộc.

Cũng như các bệnh cấp tính khác, cả hai bệnh này đều xẩy ra bất thình lình với các triệu chứng rất quan trọng.

Khó tiêu rồi sẽ hết còn nạn nhân bị bệnh ruột dư lại phải cấp tốc vào phông cấp cứu để mổ.

Bệnh kinh niên như viêm khớp hoặc vữa xơ động mạch xẩy ra từ từ và kéo dài cả mấy năm.

Một số bệnh như sốt rét được coi như xẩy ra nhiều lần liên tiếp bởi vì không có các triệu chứng xen lẫn với thời kỳ có bệnh./.

Bác sĩ Nguyễn Ý Đức /cn

 

 

Thứ Tư, 13 tháng 10, 2021

LỜI CẦU XIN CỦA MỘT NGƯỜI GIÀ

 

LỜI  CẦU  XIN  CỦA  MỘT  NGƯỜI  GIÀ


Ông Trời ơi.

Chắc Người biết là con đang trên con đường đi vào tình trạng lão hóa và chẳng bao lâu nữa sẽ thành người một người già.

Xin hãy giúp con khỏi trở thành người nói quá nhiều, đặc biệt là về thói quen không thích hợp là phải nói một điều gì đó vào bất cứ đề tài nào và hoàn cảnh nào.

Hãy giúp con thoát khỏi ý nghĩ là con có bổn phận giải quyết công việc của người khác. Với kinh nghiệm và sự khôn ngoan phong phú của con, con cứ nghĩ là điều đáng tiếc nếu không chia xẻ kinh nghiệm của mình với người khác. Nhưng, như Ông Trời biết đấy, cuối cùng thì con cũng cần duy trì một số bằng hữu.

Hãy giúp con chớ có kể lể dài dòng mà nói thẳng vào vấn đề.

Ban cho con sự kiên nhẫn lắng nghe những than phiền của người khác; giúp con chịu đựng họ trong tình bác ái. Nhưng giúp con bớt kể lể về những đau đớn mỗi ngày một tăng của con, tăng theo với khuynh hướng là muốn kể ra.

Con sẽ không cầu xin cải tiến trí nhớ nhưng chỉ cầu xin một chút khiêm nhường và bớt tự tin khi trí nhớ của con không phù hợp với trí nhớ của người khác. Hãy chỉ dạy cho con bài học lý thú là đôi khi con cũng có thể lầm lẫm.

Hãy giúp con ôn hòa hợp lý. Con không có cao vọng trở thành một vị thánh- đôi khi sống với vài thánh cũng khá vất vả- nhưng một người già khó tính là một trong những kiệt tác của loài quỷ.

Giúp con trở nên đồng cảm nhưng không đa cảm, có ích nhưng không huênh hoang.

Giúp con tìm ra những xuất sắc ở nơi mà con không mong đợi, những tài năng nơi những người mà con nghĩ là không có. Và xin Ông Trời hãy ban cho con sự nhẹ nhàng nói với họ là họ có tài.

Amen.

Bác sĩ Nguyễn Ý Đức.

Thứ Bảy, 18 tháng 9, 2021

Những điều bạn nên biết về hai con mắt quý báu của mình...

 

Những  điều  bạn  nên  biết  về  hai  con  mắt  quý  báu  của  mình...

5/28/2012

Ðôi mắt đã được gọi bằng nhiều tên rất biểu tượng như là đôi mắt huyền, mắt nhung, mắt biếc, mắt buồn tênh, mắt nai tơ, mắt tình nhân, mắt thù hận, mắt bạc tình, mắt dao cau, mắt sắc như dao, mắt bơ vơ, mắt xanh, mắt lá dăm, mắt toét....

Ciceron có nói: “Khuôn mặt là chân dung của tâm hồn, mà đôi mắt là để diễn tả”.

Cùng nhận xét này, Mạnh Tử góp ý: “Bụng ngay thẳng thì con ngươi trông sáng tỏ. Bụng đầy tà khúc thì con ngươi mờ đục, tối tăm”.

Rừng thơ có cả nhiều ngàn câu nói đến đôi mắt.

Xin ghi lại “Mắt Biếc” của Bích Khê diễn tả nhiều khả năng đáng yêu của mắt:

“Ôi! cặp mắt của người trong tơ ngọc

Sáng như gươm và chấp chóa kim cương

Mỗi cái ngó là một vì sao mọc!

Mỗi liếc yêu là phảng phất nùi hương.

Hai mắt ấy chói hào quang sáng ngợp

Dẫn hồn ta vào thế giới thiêng liêng.

Hớp nhiều trăng cho niềm trinh rất ngớp

Say nhạc hường nổi bồng giữa đào nguyên”

và của Trịnh Công Sơn với “Những con mắt trần gian”:

“Những con mắt tình nhân, Nuôi ta biết nồng nàn.

Những con mắt thù hận, Cho ta đời lạnh câm.

Những con mắt cỏ non, Xanh cây trái địa đàng.

Những con mắt bạc tình, Cháy tan ngày thần tiên...”

Một cách thực tế, Addison nhận xét: “Trong tất cả các giác quan, thị giác toàn hảo và thích thú nhất”.

Người mình vẫn so sánh: “Hai mắt là ngọc, hai tay là vàng”.

Thực vậy, mắt là vật sở hữu quý giá nhất của con người mà cho tới nay, chưa có cách nào để thay thế toàn bộ được. Người ta có thể thay tim, thay thận, thay gan, nhưng mắt chỉ mới thay được giác mạc, thủy tinh thể mà thôi.

Mắt là cơ quan để thu hình ảnh và nhìn sự vật, như một chiếc máy ảnh, nhưng với một cấu trúc tinh vi và những khả năng hoàn hảo gấp bội.

Ðôi mắt

a- Nhãn cầu là bộ phận phần chính của mắt nằm trong ổ mắt và được mi mắt bảo vệ ở phía trước. Ổ mắt do các xương gò má, xương trán, xương sống mũi họp thành.

Ðây là một khối hình cầu mà kích thước do di truyền quyết định. Khi mới sinh ra, trẻ nhìn xa rõ hơn vì nhãn cầu nhỏ. Tới giai đoạn tăng trưởng, trẻ nào có nhãn cầu to do di truyền sẽ nhìn gần rõ ràng hơn. Tuổi tăng trưởng lại trùng vào thời gian bắt đầu đi học, nên các em này thường hay bị cận thị. Vì vậy, cận thị thị được “cho là” do đọc sách nhiều, ngồi gần màn hình tivi, đọc sách thiếu ánh sáng...

Phía ngoài của mắt là 6 bắp thịt nhỏ, dài để di động nhãn cầu nhìn về nhiều phía.

b- Mi mắt là một lớp da với nhiều cơ và mô liên kết lót bằng kết mạc. Mi mắt nhắm lại khi giác mạc bị kích thích, đe dọa hiểm nguy. Viền quanh mi mắt là hai hàng lông mi để ngăn vật lạ bay vào mắt và chớp chớp khi bẽn lẽn tình yêu. Một hàng lông mày nằm phía trên mắt ngăn mồi hội, chất lỏng chảy vào mắt.

Nằm dưới mi mắt trên, là những tuyến, tiết ra nước mằn mặn để mắt khỏi khô. Mắt thông với miệng bằng một cái ống nhỏ nằm ở góc trong mi mắt. Cạnh mi có nhiều tuyến tiết ra chất nhờn, mồ hôi...

Mi mắt chớp mở mỗi vài giây, có tác dụng như cặp gạt nước kính xe hơi, để loại bỏ bụi bặm bám trên giác mạc. Ðêm ngủ, mi mắt khép kín để giác mạc khỏi bị khô.

Lâu lâu, nhiều người hay nháy mi mắt và e ngại đó là triệu chứng của bệnh tật. Thực ra, đây chỉ là sự co giựt của cơ trên mi mắt và thường thường xẩy ra khi cơ thể mệt mỏi, căng thẳng. Nháy mắt kéo dài trong vài giây, không nguy hại, chỉ cần thoa nhẹ lên mi một chút là hết. Ðôi khi nháy mắt liên tục cũng thấy trong bệnh đa xơ cứng (multiple sclerosis), co giựt cơ mặt (facial tic).

c- Phần trước của nhãn cầu là giác mạc (cornea), không vẩn đục, không mạch máu và rất nhậy cảm với với sự đau đớn. Phủ lên giác mạc là kết mạc (conjunctiva) trong suốt, có rất ít mạch máu.

d-Thủy tinh thể (lens) là bộ phận quan trọng tiếp nhận và hội tụ ánh sáng hình ảnh lên võng mạc (retina). Ðây là một cấu trúc hai mặt lồi, trong suốt, gồm có nước và chất đạm, nằm sau đồng tử và có thể thay đổi độ cong để mắt có thể thấy rõ sự vật.

Tinh thể dẹp xuống khi tập trung vào vật ở xa và vật nhìn nhỏ. Tinh thể dầy lên để tập trung vào vật ở gần, vật nhìn thấy to. Ðó là sự điều tiết của mắt. Khả năng này hoàn toàn tự động, con người không điều khiển được.

đ- Ánh sáng lọt qua đồng tử (pupil), một lỗ nhỏ nẳm giữa mống mắt.

e- Mống mắt (iris)là cái màng che trước thủy tinh thể. Một cơ vòng bao quanh bờ mống mắt điều khiển đồng tử thu nhỏ khi ánh sáng mạnh hoặc mở rộng khi ánh sáng yếu. Ðồng tử cũng mở rộng khi ta có cảm xúc kinh ngạc, sợ hãi hoặc hớn hở, vui mừng.

Tùy theo mống mắt có nhiều hay ít chất mầu mà có người có mắt đen, mắt xanh, mắt nâu...

g- Võng mạc (retina) là lớp tế bào nhậy cảm với ánh sáng, lót phía trong mắt. Ðây là cấu trúc căn bản của cặp mắt, có công dụng như tấm phim của máy ảnh để thu nhận và ghi lại cả ngàn hình ảnh, tĩnh cũng như động, suốt ngày này qua tháng khác mà không cần thay phim như trong máy ảnh.

Trên võng mạc, có những tế bào hình nón, hình que chuyển ánh sáng ra những tín hiệu điện năng, được dây thần kinh thị giác chuyển lên não bộ. Tế bào não phân tích, tổng hợp các tín hiệu và tạo ra hình ảnh của sự vật.

h- Mắt còn chứa hai dung dịch lỏng rất quan trọng.

Thể mi (ciliary body) với nhiều cơ bắp để thay đổi độ cong của tinh thể, đồng thời cũng tiết ra một chất lỏng như nước, gọi là thủy dịch, nằm giữa tinh thể và giác mạc. Thủy dịch có đủ các thành phần cấu tạo của máu, ngoại trừ tế bào máu.

Dung dịch thứ hai, dịch pha lê, trong suốt, nẳm giữa võng mạc và tinh thể.

Chăm sóc mắt

Nhiều người hơi lơ là trong việc giữ gìn “đôi mắt ngọc” của mình. Ðây là một thiếu sót lớn, vì một tổn thương dù nhỏ của mắt cũng có thể dần dần đưa tới khiếm khuyết thị giác.

Sau đây là một số điều nên lưu ý:

1. Ðừng bao giờ rụi mắt với những ngón tay, dù là ngón tay ngọc ngà người đẹp, huống chi lại rụi mắt với bàn tay dính đất, một cái khăn nhiễm trùng, một miếng giấy dơ bẩn...

2. Khi chẳng may có một chất kích thích nào đó, như nước sà bông, nước mắm, dầu xe hơi, mỡ...bắn vào mắt, nên lập tức tạt nước lạnh vào mắt. Tổn thương cho mắt sẽ giảm thiểu rất nhiều nếu ta làm hành động rất giản dị, sẵn có, nhưng quan trọng này.

3. Mang kính bảo vệ mắt khi cắt cỏ, mài dũa kim loại, đi xe gắn máy...để tránh vật nhỏ bay vào mắt. Công nhân làm công việc có rủi ro cho mắt, cần mang kính bảo vệ mắt do chủ nhân cung cấp.

4. Không dùng thuốc nhỏ mắt của người khác, vì mỗi người có mỗi bệnh khác nhau. Ngoài ra, có nhiều loại thuốc nhỏ mắt cấm dùng trong vài bệnh nhiễm của mắt.

Nhỏ thuốc vào mắt như sau: đứng trước một tấm gương, dùng đầu ngón tay kéo nhẹ mi mắt dưới xuống, bàn tay kia bóp thuốc vào góc con mắt, buông ngón tay giữ mi, chớp mắt vài lần, thuốc sẽ lan đều khắp mắt.

5. Nhiều người, đặc biệt là quý vị cao niên, hay bị khô mắt, gây ra cảm giác rất khó chịu, lâu ngày giác mạc có thể bị trầy. Nguyên do thông thường là tuyến nước mắt tiết ra ít nước mắt hoặc ống dẫn nước mắt bị tắc nghẹt.

Nên đi khám bác sĩ để tìm nguyên nhân rồi trị liệu. Trong khi chờ đợi, có thể nhỏ các dung dịch nước mắt nhân tạo để giảm thiểu khó chịu này.

6. Nên cẩn thận với các tia cực tím từ ánh nắng mặt trời. Tiếp xúc trực tiếp và lâu ngày, các tia này có thể gây tổn thương cho giác mặc, thủy tinh thể và cũng là nguy cơ đưa tới cao áp suất trong mắt.

Thực ra, không cần phải mang kính râm mỗi lần ra ngoài nắng. Nhưng nếu làm việc hoặc đi dưới ánh nắng trong thời gian khá lâu, thì nên mang kính râm đề chặn các tia tử ngoại và khỏi chói mắt. Lựa kính có độ lọc cao đối với các tia tử ngoại.

7. Nên đi bác sĩ khám mắt theo định kỳ. Nếu không có bệnh mắt, nên đi khám mỗi 5 năm, cho tới khi 50 tuổi. Sau tuổi này, nên khám thường xuyên hơn để tìm ra dấu hiệu của cao áp nhãn và các bệnh khác. Nếu có rối loạn về khúc xạ ánh sáng, nên đi khám mỗi 2 năm hoặc thường xuyên hơn, tùy theo chỉ định của bác sĩ.

Bác sĩ chỉnh mắt (optometrist) có thể khám mắt, đo thị lực, chỉ định độ nặng nhẹ của kính và, tùy theo luật lệ từng nơi, có thể điều trị mấy bệnh nhẹ của mắt.

Bác sĩ chuyên ngành nhãn khoa (ophtalmologist) đều khám, chữa tất cả các bệnh của mắt, cho toa kính mắt và giải phẫu mắt.

8. Ánh sáng khi làm việc, đọc chữ, cần vừa phải, thích hợp, không sáng quá hoặc không tối quá để khỏi gây trở ngại cho sự nhìn. Các nhà chuyên môn về mắt đều đồng ý là cường độ ánh sáng hoặc ngồi gần màn hình tivi không gây tổn thương cho mắt.

9. Nên cẩn thận với mỹ phẩm làm đẹp mắt, vì nhiều người có thể dị ứng với các sản phẩm này. Mua một ít dùng thử,nếu an toàn thì tiếp tục.

Tránh để mỹ phẩm rớt vào mắt gây kích thích. Bôi mỹ phẩm tô đậm lông mi (mascara) vào 2/3 phần ngoài cùa lông, tránh mỹ phẩm rơi váo mắt. Kẻ bút chì xa mi mắt một chút, tránh đầu nhọn đụng vào giác mạc.

10.Cẩn thận khi xịt keo tóc, đừng để hóa chất bắn vào mắt.

11. Nhiều bác sĩ nhãn khoa đề nghị gắn lông mày giả loại lấy ra mỗi ngày được, để các tuyến nhờn mi mắt tiếp tục hoạt động bình thường. Khi uốn cong lông mi, tránh kéo mi mắt quá căng.

12. Nhiều người than phiền mỏi mắt sau mấy giờ đọc sách, coi máy vi tính hoặc làm công việc tỉ mỉ cần sự tập trung của mắt. Họ e ngại là mắt suy nhược, bị bệnh mắt hoặc cần mang kính.

Thực ra, đây chỉ vì mắt phải làm việc quá khả năng chịu đựng, nên các bắp thịt mệt mỏi. Lâu lâu nên ngưng công việc, nhắm mắt vài phút, hoặc ngó lên trần nhà để nhãn cầu, cơ mắt thư giãn.

Ngoài ra, cũng nên lưu ý là nếu sức khỏe tổng quát không tốt, thiếu dinh dưỡng, mất ngủ, căng thẳng tâm thần... cũng làm mắt mau mệt mỏi. Kính mắt chỉ để điều chỉnh khiếm khuyết về khúc xạ ánh sáng của nhãn cầu, chứ không làm mắt mạnh hơn hay yếu đi.

13. Mắt đỏ cũng là mối ưu tư của nhiều người. Bình thường, trên giác mạc có một số mạch máu nhỏ xíu phủ lên. Khi nhiễm vi khuẩn, dưới tác hại của khói thuốc, hóa chất trong môi trường, uống nhiều rượu, làm việc bằng mắt quá lâu hoặc khi “nộ khí sung thiên”, tức giận... đều làm cho máu tụ lại nhiều, mắt sẽ đỏ lên...

Khi đỏ mắt do nhiễm bệnh hoặc gây ra do hóa chất, cần đi bác sĩ để điều trị. Còn các trường hợp khác, chỉ cần dùng nước lạnh tạt vô mắt hoặc đắp khăn nước lạnh dăm phút lên mắt, là có thể làm giảm đỏ mắt.

14. Duy trì chế độ ăn uống hợp lý, đa dạng, cân bằng có đầy đủ các chất dinh dưỡng, đặc biệt các sinh tố A, C, E., các khoáng chất kẽm, selenium...

Và đặc biệt là giữ tâm thân an lạc, giảm thiểu lo âu, buồn bực, ham muốn, giận hờn, ghen tức, đố kỵ...

“Trời sinh con mắt là gương

Người ghét ít ngó, người thương ngó hoài - Ca dao.

Vì “Ðôi mắt là cửa sổ của tâm hồn”, nhìn vào, thấy hết...

Bác sĩ Nguyễn Ý Ðức

Texas-Hoa Kỳ

Thứ Tư, 25 tháng 8, 2021

SỰ DÙNG DƯỢC PHẨM Ở NGƯỜI CAO TUỔI


SỰ  DÙNG  DƯỢC  PHẨM  Ở  NGƯỜI  CAO  TUỔI

Bác sĩ Nguyễn Ý-ĐỨC

Thuốc hay dược phẩm được định nghĩa là chất lấy ở thực vật, khoáng vật, sinh động vật, hóa chất, để điều trị bệnh, phòng ngừa bệnh,phục hồi các chức năng của cơ thể hoặc thay đổi quá trình sinh sản v.v.., khi được dùng đúng lúc,  đúng cách, trong một thời gian nhất định. 

Trước năm 1920, dược phẩm trên thị trường rất ít, công dụng giới hạn nhưng an toàn hơn. Ngày nay, có rất nhiều thuốc công hiệu nhưng lại gây ra một số tác dụng phụ nguy hại, bất lợi. Nếu trong việc cho toa, bác sĩ cần cân nhắc loại thuốc thích hợp với y chứng, phân lượng vừa đủ và thời gian xử dụng, thì người bệnh cũng cần thực thi đúng theo hướng dẫn của bác sĩ, thuốc nào, bệnh nấy. Quý vị lão niên ta rất chăm lo tới sức khỏe, nên rất chăm chỉ trong việc tìm thuốc trị bệnh. Thấy có một triệu chứng bệnh nào là quý vị kiếm thuốc ngay, do bác sĩ biên toa, hoặc qua sự giới thiệu của bạn bè, sách báo y học.

Thành ra, một vị trên 65 tuổi, có khi uống đến cả 7, 8 thứ thuốc trong một ngày. Thuốc bệnh do bác sĩ cho về cao huyết áp, thuốc bao tử, thuốc đau nhức, phong thấp, vài viên thuốc ngủ, kèm thêm ít thuốc ta để bổ gân, bổ thận do bạn bè giới thiệu, lại còn vitamin, anti oxidant.

Với một hỗn hợp nhiều hóa chất khác nhau như vậy e rằng chúng sẽ gây ra những tác dụng tương phản, đôi khi có hại, cho một cơ thể đã có nhiều thay đổi về cấu tạo cũng như chức năng. Hàng năm, số bệnh nhân cao tuổi nhập viện khẩn cấp do hậu quả của sự xử dụng thuốc không đúng cách lên rất cao, nhất là với thuốc về bệnh tâm thần.

Chúng tôi xin cùng quý vị tìm hiểu thêm về vấn đề sử dụng thuốc này để duy trì một sức khỏe bình thường.

Công dụng của dược phẩm.

Về phương diện trị liệu, sử dụng dược phẩm nhằm vào những mục tiêu chính như:                                                         

1-Trị lành bệnh.

Khi mắc một bệnh nhiễm trùng, như sưng phổi, ta sẽ có những triệu chứng ho, nóng sốt cao, mệt mỏi, khó thở. Sau khi khám bệnh, bác sĩ cho uống thuốc kháng sinh trong vòng 7-10 ngày. Sau đó nhiệt độ giảm, ta bớt ho và trở lại bình thường. Như vậy thuốc đã tiêu diệt vi khuẩn và ta đã lành bệnh.             

2 -Thay thế những yếu tố thiếu trong cơ thể –

Một người mắc bệnh thiếu máu, hồng huyết cầu thấp, vì ruột không hấp thụ được sinh tố B12. Bác sĩ cho chích mỗi tháng một liều Vit B12 để thay thế sinh tố thiếu trong cơ thể.

Bệnh nhân bị tiểu đường vì tụy tạng tiết ra rất ít Insulin, sẽ được chích Insulin nhân tạo mỗi ngày để giữ mức đường trong máu bình thường.

 Sư thay thế như vậy là cần thiết và đạt được mục tiêu làm cơ thể bình thường vì thiếu những chất kể trên.

3- Ngăn ngừa sự phát triển một bệnh.

Cũng trong trường hợp bệnh tiểu đường, Insulin còn duy trì bệnh ở tình trạng không gây ra những biến chứng nguy hiểm như hư mắt, hư thận…và nếu ngưng Insulin, bệnh sẽ trầm trọng thêm lên.

Người bị cao huyết áp nếu ngưng uống thuốc trị cao máu, bệnh sẽ nặng hơn và có thể gây tai-biến-mạch-máu-não, kích xúc tim.

Trong các bệnh này, dược phẩm không những có công dụng điều trị mà còn ngăn ngừa biến chứng cuả bệnh.      

4-Thuốc để làm dịu một triệu chứng.

Thí dụ như khi ta bị đau nhức mình mẩy vì làm vườn quá sức hay nhức đầu vì uống rượu quá nhiều, thường thường ta uống một viên Tylenol hay Aspirine. Thuốc không làm hết bệnh, mà chỉ làm dịu cảm giác đau, khó chịu. Nhiều khi chẳng cần thuốc, mà chỉ cần nằm nghỉ vài giờ là hết đau. Số lượng thuốc dùng trong mục đích xoa dịu này rất nhiều, đôi khi có sự lạm dụng.

5- Phòng ngừa bệnh.

Các thuốc này hoặc tạo ra tính miễn dịch hoặc hỗ trợ hệ thống miễn nhiễm của cơ thể. Nhờ sự chủng ngừa này mà nhân loại tránh được nhiều bệnh truyền nhiễm từng gây tử vong cao ở các thế kỷ trước, như bệnh đậu mùa, dịch hạch...

 Các tác động bất lợi của dược phẩm.

Với những công dụng như trên, thuốc giữ một vai trò quan trọng trong việc duy trì sức khỏe của con người, nói chung, và của lão niên nói riêng. Mà thuốc thường cũng chỉ là một hóa chất, có công dụng như nói ở trên, đồng thời cũng có tác dụng phụ không tốt, bất kể là thuốc gì, dùng nhiều hay là ít. Đó là những tác-động-có-hại của thuốc (Adverse drugs reaction).

Theo định nghĩa của Cơ Quan Y Tế Quốc Tế thì tác động này là bất cứ một đáp ứng không mong muốn nào của cơ thể, xẩy ra khi dùng thuốc theo phân lượng để ngừa bệnh, định bệnh hay trị bệnh. Tác động có hại được chia nhiều loại:

Dị Ứng Thuốc

Có nhiều tác động hại không phải do dị ứng, nhưng vẫn được công chúng hiểu nhầm là dị ứng. Chẳng hạn như sau khi uống thuốc, ta bị ói mửa, đại tiện lỏng, sót ruột…thì  chỉ là tác dụng tại chỗ của thuốc vào dạ dày

Dị ứng là do sự tác dộng của kháng thể đã có trong máu, chống lại sự hiện diện của dược phẩm, và gây ra một số những triệu chứng khó chịu, đôi khi nguy hiểm. Nó có tác dụng ngược lại với cơ chế miễn dịch, chống lại sự xâm nhập của tác nhân gây bệnh.

Ban chẩn với những lấm tấm đỏ trên da là phản ứng thông thường nhất của dị ứng. Trường hợp nặng sẽ có nóng sốt, khó thở, thở khò khè, ngứa toàn thân, huyết áp giảm, tim đập liên hồi, suy nhược tổng quát ...có thể nguy hiểm cho tính mạng, nếu không được cấp cứu. Phản ứng này thường thấy khi chích thuốc Penicillin, Insulin hay hóa chất dùng trong việc chụp hình quang tuyến X, nó có thể xẩy ra tức thì hay chậm lại một thời gian. Cũng nên nhớ là dị ứng có thể xẩy ra dù chỉ dùng một phân lượng rất nhỏ dược phẩm.

1.Tác dụng độc của dược phẩm.

 Dược phẩm là một hóa chất, mà bất cứ hóa chất nào cũng có tác dụng độc cho cơ thể, ngoài giá trị chữa bệnh.

Viên Aspirin mà ta thường uống để làm dịu nhức đầu, phong thấp  thì cũng làm màng bao tử trầy hư, gây xuất huyết. Thuốc chữa các bệnh ung thư làm rụng tóc. Thuốc trị cao huyết áp gây loạn cương dương. Thuốc ngừa máu đóng cục trong vài bệnh tim làm loãng máu, gây xuất huyết, khó cầm khi bị thương hay giải phẫu. Đây không phải dị ứng  nhưng là tác dụng của hóa chất mà trước khi dùng nó, ta đã được giải thích rõ ràng.

2-Tác dụng do phân lượng không đúng

Thuốc uống ít quá, không có công hiệu, mà nhiều quá thì dễ gây phản ứng có hại.

3.Tác dụng bất thường không rõ nguyên nhân

 Đáp ứng của từng cá nhân với thuốc, như  lượng nhỏ thuốc tê có thể gây nóng sốt, hay thuốc Tifomycine gây hủy hoại hồng cầu.

Sau đây là một số yếu tố có thể khiến tác động bất thường của thuốc dễ xẩy ra:

a-Đã có những bệnh dị ứng.

b- Đã có phản ứng với thuốc trong quá khứ.

c- Uống nhiều thuốc khác nhau vì có nhiều bệnh kinh niên

d- Điều trị bởi nhiều BS chuyên khoa, mỗi BS cho toa thuốc khác.

e- Có khó khăn về tài chánh, không mua đủ thuốc, dùng thuốc cũ, quá hạn

g- Khiếm khuyết thị giác, thính giác, không nhìn rõ mặt thuốc cũng như không nghe rõ lờI dặn của bác sĩ, dược sĩ, uống  thuốc không đúng cách.

5-Ngoài ra, còn tác dụng giữa thuốc và thực phẩm.

Đa số thuốc ta dùng ở nhà là thuốc uống, mà thuốc và thực phẩm đều được hấp thụ vào máu qua bao tử, nhất là ruột non. Hiệu quả của thuốc có thể tăng, giảm hoặc không thay đổi, tùy theo loại thực phẩm và tùy theo uống thuốc trước hay sau khi ăn. Điều này, ta cần hỏi bác sĩ, dược sĩ khi nhận thuốc, để tránh phản ứng bất lợi.

6-Vấn đề đặc biệt quan trọng ở người cao tuổi là uống nhiều thuốc cho nhiều bệnh hay nhiều triệu chứng. Thuốc đôi khi có tác dụng tương phản nhau, gây không tốt cho cơ thể. Hơn nữa, ở người cao tuổi, khả năng hấp thụ ở bộ máy tiêu hóa, biến hóa thuốc ở gan , và  bài tiết dược phẩm  qua thận đều giảm tới 40% so với tuổi trẻ, trung niên. Thời gian bán hủy của thuốc ở huyết tương kéo dài, và độc tính của thuốc tăng thêm.

Vài cách tránh những điều bất lợi khi dùng thuốc. Để sự xử dụng thuốc có công hiệu, không phản ứng, ta cần lưu ý những điều sau đây:

1-. Kê khai với bác sĩ tất cả những bệnh mình đang có, những thuốc mình đang uống, cả thuốc mua tự do ở chợ hay thuốc do bạn bè giới thiệu. Mồi lần đi khám bệnh, mang ống, chai thuốc đã dùng để bác sĩ dễ nhận diện thuốc. Nhiều vị nói, “ấy kỳ trước bác sĩ cho tôi viên hạt dưa trắng, tốt lắm”, hay là “tôi đang uống thuốc nước mầu hồng”,  thì chả ai biết là thuốc gì.

2-. Theo lời chỉ dẫn của bác sĩ dược sĩ, đọc kỹ nhãn thuốc với cách dùng, giờ uống, uống lúc nào, bụng đói hay no, mấy lần một ngày. Chẳng hạn thuốc uống bốn lần trong một ngày, có thể là uống vào những bữa ăn và trước khi đi ngủ; hoặc cũng có thể là uống mỗi 6 giờ đồng hồ, kể cả thức dậy ban đêm để uống.

Với thuốc nước, ta cần lắc chai cho thuốc hòa đều với nhau trước khi uống.

Không tự ý tăng hay giảm phân lượng, vì ít quá, không có công hiệu, nhiều quá sẽ gây hại.

Uống cho hết thời hạn bác sĩ dặn, chứ không phải thấy giảm bệnh là ngưng thuốc.

Không uống thuốc trong bóng tối, có thể nhầm loại thuốc.

3-. Cho bác sĩ hay tác dụng phụ hay phản ứng của thuốc mình đã có.

4-. Giữ thuốc nơi an toàn, xa tầm tay trẻ con, trong chai, lọ từ nhà thuốc tây, để tránh nhầm thuốc. Vứt bỏ thuốc quá hạn.

5- Ráng nhớ tên thuốc cũng như công dụng của thuốc.

6-Nếu có thể, nên mua thuốc ở một tiệm, như vậy dược sĩ sẽ có toàn bộ hồ sơ thuốc của mình, có thể theo dõi, giải thích tác dụng các loại thuốc khác nhau cho mình. Người dược sĩ không chỉ đóng vai trò cung cấp thuốc như trước đây. Họ có nhiệm vụ liên lạc với bác sĩ  để tham khảo, lựa thuốc thích hợp cho bệnh nhân, hướng dẫn cách dùng thuốc, tác dụng tốt xấu của thuốc, theo dõi xem bệnh nhân có uống thuốc đều đặn không, phân lượng cho có gì bất thường hay không.

Bác Sĩ Nguyễn Ý Đức

Chủ Nhật, 22 tháng 8, 2021

CÀ CHUA

 

CÀ  CHUA  CÀ  CHUA

 


Vì có nhiều hương thơm lạ và vị hơi chua nên cà chua có thể nấu  nhiều cách khác nhau với nhiều loại thực phẩm.

 Người Âu châu lại khám phá ra cà chua từ Trung Mỹ châu vào thế kỷ thứ 16, rồi sau đó cà chua được di dân từ châu Âu mang đến Hoa Kỳ.

Ngày nay, cà chua được giồng khắp nơi trên thế giới và là một trong những loại rau trái được trồng nhiều nhất. Mùa thu hoạch  cà chua cho phẩm chất tốt nhất là đúng  vào thời gian nóng của những tháng Hè. Vào các thời điểm khác, cà chua thường nhạt hơn nên nhiều người dùng thay thế bằng cà chua hộp.

Vào mùa Hè, cà chua được hái chín trên cây và đưa ra thị trường. Mùa Đông, cà chua được hái khi còn xanh và có thể để lâu. Khi mang bán, cà chua xanh được xịt chất ethylene để có mầu đỏ nhưng cà vẫn còn cứng và cần được cất trong tủ lạnh cho khỏi hư.

Cà chua chế biến

 Cà chua có thể được chế biến để dành dưới nhiều dạng:

- Cà chua đóng hộp để dành dùng quanh năm. Cà chua này thường có nhiều muối và cung cấp nhiều năng lượng.

- Để tránh ngộ độc, cà chua hộp cần được nấu kỹ trước khi ăn và loại bỏ những hộp phồng lên vì có thể bị nhiễm loại vi khuẩn botulinum rất độc

- Cà chua phơi nắng hoặc sấy khô, gói riêng hay với dầu ăn.

- Cà chua dưới dạng bột nhão đã được nấu chín, loại bỏ bớt nước, thêm gia vị.

- Nước xốt cà chua là cà được nấu sơ qua, loại bỏ bớt nước, thêm gia vị.

- Nước cà chua đóng hộp cũng rất thông dụng và đều được khử trùng bằng sức nóng.

Các loại nước xốt chế từ cà chua như (ketchup, chili sauce, pasta sauce) thường có thêm nhiều đường, muối và dầu béo nên rất hấp dẫn khi ăn.

Mua và để dành

Khi mua, lựa trái cà tròn hay bầu dục, cầm nặng tay, nắn thấy chắc chứ không nhũn nước.

Ăn ngay thì lựa trái chín đỏ. Muốn để dành vài ngày thì lựa trái hơi vàng.

Cà chín cần cất trong tủ lạnh còn cà xanh có thể để ngoài phòng cho mau chín.

Cà chua đỏ có nhiều sinh tố A hơn cà chua xanh, nhưng cả hai loại đều có giá trị dinh dưỡng như nhau.

Muốn cà mau chín mùi, cho cà chua vào túi giấy chung với vài quả táo.

Có nhiều loại cà chua: loại cherry tomato mầu đỏ hoặc vàng, nhỏ bằng đầu ngón chân cái rất tiện làm xà lách; grape tomato nhỏ con; green tomato vỏ còn xanh, vị cay rất tốt khi rán, đút lò (broiling); beefsteak tomato rất lớn, tiện lợi khi thái mỏng làm  bánh mì kẹp hoặc để nướng; teardrop tomato nhỏ, giống trái lê; vine tomato trái to, thường được hái khi đã chín trên cây nên có nhiều hương vị thơm ngon.

Thành phần dinh dưỡng

Cà chua có nhiều chất xơ ở vỏ và hột, nhiều sinh tố A, sinh tố B,  folate và rất nhiều sinh tố C ở phần chất lỏng chung quanh hột.

Một quả cà chua cỡ trung bình chỉ có 25 calori nhưng có chứa trong đó  20mg sinh tố C và 360mcg sinh tố A dưới dạng beta carotene.

Tác dụng trị bệnh

Ngoài công dụng như một thực phẩm, cà chua cũng có vài tác dụng tốt trong việc phòng ngừa bệnh tật.

Nghiên cứu tại đại học Harvard cho hay đàn ông ăn cà chua bốn lần một tuần có thể giảm nguy cơ ung thư nhiếp tuyến tới 20 %, và cà chua nấu chín dường như có công hiệu hơn cà chua sống. Sự kiện này được giải thích là nhờ có chất bioflavonoid, tương tự như beta carotene, có trong cà chua.

Cà chua có chất lycopene. Kết quả nhiều nghiên cứu tại Hoa Kỳ, Do Thái, Ý cho thấy chất này có khả năng làm giảm các rủi ro gây ra ung thư phổi, đường tiêu hóa. Quan sát cho hay sở dĩ dân chúng sống ở Hawai ít bị ung thư bao tử, dân Na Uy ít bị ung thư phổi vì họ ăn nhiều cà chua.

Đã có một thời, dân Pháp coi cà chua như có tính kích thích tính dục và gọi cà chua là Pommes d'Amour.

 Có điều chắc chắn là cà chua có nhiều kali nên rất tốt cho người cao huyết áp phải  uống thuốc lợi tiểu, mất kali.

Vài tác hại của cà chua

Một số ý kiến nghi ngờ rằng cà chua có thể làm tăng nguy cơ viêm khớp xương, nhưng điều này chưa được xác nhận.

Thực tế thì cà chua có thể gây chứng nhức đầu ở người quá mẫn cảm với chất solanine có trong cà chua.

 Cà chua cũng là một trong nhiều thực phẩm gây dị ứng.

Một hóa chất khác trong cà chua cũng gây ra chứng khó tiêu và ợ chua ở bao tử.

 Ngoài ra, ta cũng nên cẩn thận với lá cà chua vì lá có hóa chất alpha-tomatine rất độc đối với dây thần kinh.

Tác giả:  Bác Sĩ Nguyễn Ý-Đức, MD.

Chủ Nhật, 15 tháng 8, 2021

CÁC TÁC ĐỘNG BẤT LỢI CỦA DƯỢC PHẨM.


CÁC  TÁC  ĐỘNG  BẤT  LỢI  CỦA  DƯỢC  PHẨM.

Bác Sĩ Nguyện Ý Đức



Với những công dụng như trên, thuốc giữ một vai trò quan trọng trong việc duy trì sức khỏe của con người, nói chung, và của lão niên nói riêng. Mà thuốc thường cũng chỉ là một hóa chất, có công dụng như nói ở trên, đồng thời cũng có tác dụng phụ không tốt, bất kể là thuốc gì, dùng nhiều hay là ít. Đó là những tác-động-có-hại của thuốc (Adverse drugs reaction).

Theo định nghĩa của Cơ Quan Y Tế Quốc Tế thì tác động này là bất cứ một đáp ứng không mong muốn nào của cơ thể, xẩy ra khi dùng thuốc theo phân lượng để ngừa bệnh, định bệnh hay trị bệnh. Tác động có hại được chia nhiều loại:

Dị Ứng Thuốc

Có nhiều tác động hại không phải do dị ứng, nhưng vẫn được công chúng hiểu nhầm là dị ứng. Chẳng hạn như sau khi uống thuốc, ta bị ói mửa, đại tiện lỏng, sót ruột…thì  chỉ là tác dụng tại chỗ của thuốc vào dạ dày

Dị ứng là do sự tác dộng của kháng thể đã có trong máu, chống lại sự hiện diện của dược phẩm, và gây ra một số những triệu chứng khó chịu, đôi khi nguy hiểm. Nó có tác dụng ngược lại với cơ chế miễn dịch, chống lại sự xâm nhập của tác nhân gây bệnh.

Ban chẩn với những lấm tấm đỏ trên da là phản ứng thông thường nhất của dị ứng. Trường hợp nặng sẽ có nóng sốt, khó thở, thở khò khè, ngứa toàn thân, huyết áp giảm, tim đập liên hồi, suy nhược tổng quát ...có thể nguy hiểm cho tính mạng, nếu không được cấp cứu. Phản ứng này thường thấy khi chích thuốc Penicillin, Insulin hay hóa chất dùng trong việc chụp hình quang tuyến X, nó có thể xẩy ra tức thì hay chậm lại một thời gian.  Cũng nên nhớ là dị ứng có thể xẩy ra dù chỉ dùng một phân lượng rất nhỏ dược phẩm.

1-Tác dụng độc hại của Dược Phẩm

 Dược phẩm là một hóa chất, mà bất cứ hóa chất nào cũng có tác dụng độc cho cơ thể, ngoài giá trị chữa bệnh.

Viên Aspirin mà ta thường uống để làm dịu nhức đầu, phong thấp  thì cũng làm màng bao tử trầy hư, gây xuất huyết. Thuốc chữa các bệnh ung thư làm rụng tóc. Thuốc trị cao huyết áp gây loạn cương dương. Thuốc ngừa máu đóng cục trong vài bệnh tim làm loãng máu, gây xuất huyết, khó cầm khi bị thương hay giải phẫu. Đây không phải dị ứng  nhưng là tác dụng của hóa chất mà trước khi dùng nó, ta đã được giải thích rõ ràng.

2-Tác dụng do phân lượng không đúng

Thuốc uống ít quá, không có công hiệu, mà nhiều quá thì dễ gây phản ứng có hại.

3.Tác dụng bất thường không rõ nguyên nhân

 Đáp ứng của từng cá nhân với thuốc, như lượng nhỏ thuốc tê có thể gây nóng sốt, hay thuốc Tifomycine gây hủy hoại hồng cầu.

Sau đây là một số yếu tố có thể khiến tác động bất thường của thuốc dễ xẩy ra:

a- Đã có những bệnh dị ứng.

b- Đã có phản ứng với thuốc trong quá khứ.

c- Uống nhiều thuốc khác nhau vì có nhiều bệnh kinh niên.

d- Điều trị bởi nhiều BS chuyên khoa, mỗi BS cho toa thuốc khác.

e- Có khó khăn về tài chánh, không mua đủ thuốc, dùng thuốc cũ, quá hạn

g- Khiếm khuyết thị giác, thính giác, không nhìn rõ mặt thuốc cũng như không nghe rõ lờI dặn của bác sĩ, dược sĩ, uống  thuốc không đúng cách.

4-Ngoài ra, còn tác dụng giữa thuốc và thực phẩm.

Đa số thuốc ta dùng ở nhà là thuốc uống, mà thuốc và thực phẩm đều được hấp thụ vào máu qua bao tử, nhất là ruột non. Hiệu quả của thuốc có thể tăng, giảm hoặc không thay đổi, tùy theo loại thực phẩm và tùy theo uống thuốc trước hay sau khi ăn. Điều này, ta cần hỏi bác sĩ, dược sĩ khi nhận thuốc, để tránh phản ứng bất lợi.

5-Vấn đề đặc biệt quan trọng ở người cao tuổi là uống nhiều thuốc cho nhiều bệnh hay nhiều triệu chứng. Thuốc đôi khi có tác dụng tương phản nhau, gây không tốt cho cơ thể. Hơn nữa, ở người cao tuổi, khả năng hấp thụ ở bộ máy tiêu hóa, biến hóa thuốc ở gan , và  bài tiết dược phẩm  qua thận đều giảm tới 40% so với tuổi trẻ, trung niên. Thời gian bán hủy của thuốc  ở huyết tương kéo dài, và độc tính của thuốc tăng thêm.

Bác Sĩ Nguyện Ý Đức