Hiển thị các bài đăng có nhãn Lm Trần Mạnh Hùng. Hiển thị tất cả bài đăng
Hiển thị các bài đăng có nhãn Lm Trần Mạnh Hùng. Hiển thị tất cả bài đăng

Thứ Ba, 7 tháng 5, 2024

ÁN TỬ HÌNH VÀ SỰ THAY ĐỔI VỀ LẬP TRƯỜNG CỦA GIÁO HỘI CÔNG GIÁO

 ÁN  TỬ  HÌNH  VÀ  SỰ  THAY  ĐỔI  VỀ  LẬP  TRƯỜNG  CỦA  GIÁO  HỘI  CÔNG  GIÁO 

Lm Trần Mạnh Hùng 

Lời giới thiệu: Đức Thánh Cha Phanxicô từ khi được bầu lên ngôi vị Giáo hoàng, Đấng kế vị Thánh Phêrô để điều hành và cai quản Giáo hội Công giáo hoàn vũ, đã không ngừng lên tiếng kêu gọi bãi bỏ hình phạt tử hình, cũng như tù chung thân mà Ngài đã mô tả nó như là một bản án tử hình ẩn dấu.1 Mặc dù Ngài ghi nhận rằng trong khi các giáo huấn truyền thống của Giáo Hội Công Giáo không loại trừ án tử hình, 1 . Xem Francis X. Rocca, “Đức Giáo Hoàng Francis kêu gọi bãi bỏ án tử hình và tù chung thân,” Catholic News Service. Được đăng vào ngày 23 Tháng 10 năm 2014. http://www.catholicnews.com/data/stories/cns/1404377.htm (truy cập 28 tháng 10 năm 2014). 2 nhưng điều đó chỉ được chấp nhận khi không có cách nào khác để bảo vệ xã hội, một lập trường mà dường như không tồn tại ngày nay, nơi các hệ thống công lý và nhà tù hiện đại đã tỏ ra rất có hiệu quả trong việc bảo vệ cộng đồng chống lại bọn tội phạm nguy hiểm. Đồng thời, Đức Thánh Cha Phanxicô cũng đã gợi ý rằng: các xã hội hiện đại đã sử dụng quá mức hình phạt dành cho các tội hình sự, điều này xảy ra, một phần vì được bắt nguồn từ xu hướng cổ xưa muốn trừng trị và hiến tế các tội nhân đã bị cáo buộc tấn công vào cộng đồng. Thêm vào đó, ngày nay người ta ngày càng ý thức rằng phẩm giá của một người không bị mất đi ngay cả sau khi người ấy phạm những tội ác rất nghiêm trọng. Ngoài ra, còn có thêm hiểu biết về ý nghĩa của các án phạt hình sự do nhà nước tuyên án. Cuối cùng, các hệ thống giam giữ hiệu quả hơn đã được phát triển, nhằm bảo đảm cho các công dân sẽ được bảo vệ, nhưng đồng thời không nhất thiết phải tước mất khả năng đền tội của kẻ phạm tội.2 Song song như thế những gì đã diễn ra tại Úc về sự kiện chính quyền Nam Dương (Indonesia) cương quyết xử tử hai tội phạm người Úc, đó chính là Andrew Chan và Myuran Sukamaran về tội danh buôn lậu ma túy mà họ đã vi phạm. 2 . Xem Nội dung mới của Sách Giáo lý Hội thánh Công giáo về án tử hình: “Án tử hình là điều không thể chấp nhận” https://tgpsaigon.net/bai-viet/noi-dung-moi-cua-sach-giao-ly-hoithanh-cong-giao-ve-an-tu-hinh-an-tu-hinh-la-dieu-khong-the-chap-nhan-45206 (Truy cập ngày 19/10/2023). 3 A file photograph of Andrew Chan and Myuran Sukumaran being escorted by police after their verdict from a court in Denpasar. Jakarta has signalled that execution preparations were almost complete. Photograph: Bay Ismoyo/AFP/Getty Images. Báo chí và các cơ quan truyền thông khắp nơi trên nước Úc đã loan tin về các cuộc họp mặt được tổ chức ở các Tiểu Bang nhằm cầu nguyện và cổ võ cho phong trào chống lại án tử hình,3 đặc biệt hơn cả là lời kêu gọi của Bộ Trưởng Bộ Ngoại Giao, bà Julian Bishop và cựu Bộ Trưởng Bộ Di Trú, ông Philip Ruddock, 4 đề nghị chính phủ Nam Dương hãy bày tỏ lòng thương xót đối với hai tội nhân trên và nhất là kêu gọi Tổng Thống Nam Dương, ông Joko Widodo, hãy ân xá cho hai tội phạm ấy được thoát khỏi án tử hình.5 3 . Xem Capital Punishment: http://www.theguardian.com/world/capitalpunishment (accessed 5 March 2015). 4 . Để biết thêm chi tiết, xin vui lòng tham khảo: Philip Ruddock, who was the attorneygeneral in 2005 when the Bali Nine were arrested, said Australia needs to campaign worldwide for the abolition of the death penalty, not just when its own citizens are on death row. 5 . Xem Bali Nine: Foreign Minister Julie Bishop makes eleventh-hour bid to save Andrew Chan and Myuran Sukumaran. By Helen Brown and Eliza Borrello. Thursday, 5 March 4 Mục đích chính của bài viết này nhằm thảo luận về một số vấn đề liên quan đến khía cạnh luân lý, các lý do thực tiễn và ý nghĩa thần học, khi bàn về án tử hình. Chính những điều này đã dẫn tới sự thay đổi trong cách tư duy của Giáo Hội Công Giáo về án tử hình và đã thay đổi lập trường của Giáo hội và coi án tử hình là điều không thể chấp nhận được.6 DẪN NHẬP: “Án tử hình” là một chủ đề gây nhiều tranh cãi trong thời hiện đại, như đã được trích dẫn trong bài viết được mô tả trong phần ghi chú. Thẩm quyền của Nhà nước trong việc đưa ra án tử hình trước các tội ác khủng khiếp chống lại lợi ích chung của cá nhân và xã hội đã có truyền thống từ lâu và được sự hỗ trợ từ nguồn Thánh Kinh và thần học trong các cộng đồng Kitô hữu. “Giáo hội luôn rõ ràng và nhất quán dạy rằng án tử hình về nguyên tắc phù hợp với luật tự nhiên và Tin mừng. Điều này được chỉ dẫn xuyên suốt Kinh thánh – từ St 9 đến Rm 13 và nhiều điểm khác trong đó – và Giáo hội khẳng định Kinh thánh không sai lầm về luân lý.” 7 Sự hỗ trợ như vậy không phải không vấp phải những lời chỉ trích, và ngày nay những suy tư của Giáo hội Công giáo về vấn nạn này đã đặt ra một số vấn đề quan 2015. ABC News.http://www.abc.net.au/news/2015-03-05/bali-nine-executions-not-thisweek-indonesian-president/6281690 (accessed 5 March 2015). 6 . Đức Giáo hoàng Phanxicô khẳng định: “Án tử hình là điều không thể chấp nhận được vì nó tấn công vào tính bất khả xâm phạm và phẩm giá của con người”. Bộ Giáo lý Đức tin cho biết Bộ đã sửa đổi về án tử hình nơi số 2267 của Sách Giáo lý Hội thánh Công giáo, theo đó án tử hình là điều không thể chấp nhận được. Quyết định này được Bộ Giáo lý Đức tin công bố trong “Thư gửi các Giám mục” đề ngày 01 tháng 8 năm 2018, do Đức Hồng y Bộ trưởng Luis Francisco Ladaria ký tên. X. https://tgpsaigon.net/bai-viet/noi-dung-moicua-sach-giao-ly-hoi-thanh-cong-giao-ve-an-tu-hinh-an-tu-hinh-la-dieu-khong-the-chapnhan-45206. 7 . Xem Edward Feser, “Pope Francis and Capital Punishment,” First Things, 8/13/2018. 5 trọng về mặt luân lý. Bài viết này sẽ cẩn trọng xem xét những luận cứ biện minh cho án tử hình và các lập luận chống lại nó. Những lập luận này sẽ được xem xét dưới ánh sáng và quan điểm của Thánh Kinh và từ giáo huấn của Giáo Hội Công Giáo. Một số người ủng hộ án tử hình bởi vì nó giúp bảo vệ những người vô tội khỏi những tên tội phạm, trong khi những người khác tin rằng nó có thể làm giảm tỷ lệ tội phạm bằng cách ngăn ngừa các hoạt động bất hợp pháp.8 Tuy nhiên, hầu hết mọi người không chấp nhận bản án tử hình,9 vì xem đó như là một hình thức giết người và là một sự ô nhục về mặt luân lý.10 Những người tin rằng án tử hình có hiệu quả ngăn ngừa việc cố sát (giết người) thường viện dẫn một câu trong Cựu Ước: “Mạng đền mạng, mắt đền mắt, răng đền răng, tay đền tay, chân đền chân.” (Đnl 19:21) Trong khuôn khổ đó, lập luận ủng hộ án tử hình có thể được xây dựng như sau: có một số hành vi quá tàn ác và quá hủy hoại cộng đồng đến mức chúng triệt tiêu và tước đoạt tư cách thành viên của kẻ tội phạm và thậm chí là mạng sống của y. Đây là những gì mà Thánh 8 . See R. Michael Dunnigan, JD, JCL., “The Purposes of Punishment.” Source: http://www.catholicculture.org/culture/library/view.cfm?recnum=7453 (accessed 06.10.2012). 9 . The death penalty is outlawed in most of Europe, Canada, Australia, and most other countries in the world; more than 135 nations have abolished capital punishment. “The death penalty: A flawed system we can’t afford to keep.” Published By Times Herald. Posted online 07 October 2012. Source: http://www.timesheraldonline.com/opinion/ci_21719050/death-penalty-flawedsystem-we-cant-afford-keep(accessed 08.10.2012). Theo báo trực tuyến – Times Herald, đăng ngày 7 tháng 10 năm 2012, thì án tử hình đã được loại bỏ ra khỏi đạo luật hình sự ở hầu hết Châu Âu, Canada, Úc và hầu hết các quốc gia khác trên thế giới; hơn 135 quốc gia đã bãi bỏ hình phạt tử hình. 10 . See “A Good Friday Appeal to End the Death Penalty.” By the United States Conference of Catholic Bishops, April 2, 1999. Source: http://old.usccb.org/sdwp/national/criminal/appeal.shtml (accessed 07.10.2012). 6 Thomas Aquinas đã lập luận. Ngài cho rằng thật là hợp pháp để tiêu diệt những tội phạm nguy hiểm như một cách thức duy trì lợi ích chung.11 Truyền thống thần học Kitô giáo cũng hỗ trợ tương tự như vậy việc đưa ra các hình phạt tử hình qua các lập luận sau đây: 1. Thẩm quyền của nhà nước đã được khẳng định trong Tân Ước (Rm 13: 1- 4),12 và nhà nước được trao ban quyền hành để hành động với tư cách đại diện cho lợi ích chung của xã hội. Khi lợi ích chung bị đe dọa, đặc biệt là khi mạng sống của con người bị tấn công trực tiếp, nhà nước phải có biện pháp thích hợp để bảo vệ mạng sống của người dân vô tội. Việc bảo vệ như vậy đôi khi đòi hỏi nhà nước phải đưa ra các biện pháp trừng trị thích đáng đối với những kẻ phạm pháp và không tộn trọng luật pháp. 2. Án tử hình được dùng như một sự ngăn chặn và góp phần vào việc giữ gìn trật tự công cộng. 3. Án tử hình là sự thực thi một sự phán xét chứ không phải do lòng hận thù. Đức Giáo Hoàng Innocent III nói: Liên quan đến thẩm quyền của nhà nước, chúng tôi khẳng định rằng, nhà cầm quyền có thể thực hiện một phán quyết tước bỏ mạng sống, mà không gây ra tội trọng, miễn là họ đưa ra một sự trừng phạt không phải 11 . Thomas Aquinas, Summa theologiae II-II, q. 64, a.2. 12 . While some argue that St. Paul affirms the right of governing authorities to punish offenders (see John Berkman and Stanley Hauerwas, “Capital Punishment,” in Paul Barry Clarke and Linzey (eds.) Dictionary of Ethics, Theology and Society. (New York: Routledge: 1996), 102), this view has been rejected by Jean Lasserre: “No Christian justification of the death penalty can be deduced from Roman 13, so there is no single text in the New Testament which approves it.” Cited by Peter Black, “Do Circumstances Ever Justify Capital Punishment?” Theological Studies 60(1999), 342-3. 7 vì căm ghét, nhưng sau khi đã cân nhắc và suy xét kỹ lưỡng (Anti-Waldensians Profession, DS, số. 795). Có lẽ lý do thuyết phục nhất để chống lại án tử hình được xây dựng trên cơ sở là liệu nhà cầm quyền hay các cơ quan hành pháp có đủ khả năng để thi hành và áp dụng án tử hình một cách triệt để, không sai sót và thực sự công bằng. Trong lịch sử con người đã có những bằng chứng cụ thể chứng minh cho thấy nhiều kẻ vô tội đã bị tử hình một cách oan uổng. Họ bị kết tội dù họ đã không vi phạm. Một cuộc nghiên cứu tại Mỹ, được đăng trên báo The Guardian (29 tháng 4 năm 2014) đã cho chứng minh tỏ tường điều này.13 Vì các cơ quan hành pháp và các công tố viên có thể bị sai lầm và họ đã kết án kẻ vô tội. Thêm vào đó, án tử hình cũng đã được áp dụng một cách thiếu công bằng, theo như thống kê cho thấy, án tử hình phần lớn được áp dụng một cách không tương xứng, phần đông tội phạm là người nghèo và dân da màu hoặc dân thiểu số. Những lời tuyên bố cho rằng án tử hình có hiệu lực làm giảm các hành vi trộm cắp và bạo hành cũng đã được chứng minh là không có những bằng chứng hoàn toàn có sức thuyết phục, vì họ không thể đưa ra các kết luận mang tính xác quyết.14 13 . At least 4.1% of all defendants sentenced to death in the US in the modern era are innocent, according to the first major study to attempt to calculate how often states get it wrong in their wielding of the ultimate punishment. See US death row study: 4% of defendants sentenced to die are innocent.By Ed Pilkington in New York. Tuesday 29 April 2014. http://www.theguardian.com/world/2014/apr/28/death-penalty-study-4-percentdefendants-innocent (accessed 5 March 2015). 14 . During a visit to Bali in February, Victorian Supreme Court judge Lex Lasrytold ABC TV’s 7.30 that the death penalty does not deter crime. See Fact check: No proof the death penalty prevents crime.ABC News 26 Feb. 2015.http://www.abc.net.au/news/2015-02- 26/fact-check3a-does-the-death-penalty-deter3f/6116030 (accessed 01 March 2015) 8 Trong khi đó, những người khác tin rằng, thực sự không có hoàn toàn công bằng khi bắt các tội nhân phải hoàn toàn chịu trách nhiệm về các việc làm sai trái của mình; vì phần đông các kẻ phạm pháp hay gây nên tội trạng thường bị cam chịu sự bỏ rơi, không được quan tâm đến, họ bị chấn thương về mặt tình cảm, họ thiếu tình thương, bị bạo lực, bị tàn ác, hoặc đàn áp và một loạt các điều phá hoại khác do xã hội gây nên. Gần đây, có một xu hướng ngày càng gia tăng ở cả phía Giáo Hội và xã hội nhằm hạn chế việc sử dụng án tử hình chỉ được dành cho những tội trạng và những hoàn cảnh đặc biệt, hoặc thậm chí muốn xóa bỏ nó hoàn toàn. Trong bài giảng tại thành phố Saint Louis vào ngày 27 tháng 1 năm 1999, Đức Cố Giáo Hoàng Gioan Phaolô II đã nói, “Một dấu hiệu của hy vọng là sự công nhận ngày càng gia tăng, rằng phẩm giá của cuộc sống con người không bao giờ phải bị tước đi, ngay cả trong trường hợp một người đã làm điều trọng ác. Xã hội hiện đại có các phương tiện để bảo vệ chính nó mà đồng thời không dứt khoát phủ nhận cho tội nhân có cơ hội để hối cải. Tôi xin lập lại lời thỉnh cầu nhằm kêu gọi sự đồng thuận của cộng đồng thế giới để chấm dứt án tử hình, vì đó là hành vi dã man và không cần thiết.”15 Tương tự lập trường như thế, Đức Thánh Cha Phanxicô trong bài phát biểu của Ngài vào ngày 23 tháng 10 năm 2014 với nhóm đại diện của Hiệp hội Quốc tế về Luật hình sự, Ngài cũng đã kêu gọi bãi bỏ án tử hình: 15 . Jewish-Catholic Consultation, “To End the Death Penalty,” Origin 29 (1999), 463. 9 “Tôi thiết nghĩ đó là điều không thể tưởng tượng rằng các quốc gia ngày nay không thể sử dụng một phương tiện khác hơn là hình phạt tử hình để bảo vệ mạng sống của người dân từ một kẻ gây hấn bất công.”16 Đức Thánh Cha Phanxicô nhắc lại tính ưu việt của sự sống và phẩm giá của con người, tái khẳng định sự lên án tuyệt đối về án phạt tử hình, vì việc sử dụng án này đã bị từ chối bởi các Kitô hữu.17 Theo sách Giáo Lý của Giáo Hội Công Giáo, số 2267 (trước khi được Đức Thánh Cha Phanxicô phê chuẩn để thay đổi vào tháng 8 năm 2018)18, các giáo huấn truyền thống của Giáo Hội không loại trừ việc nại đến các hình phạt tử hình, nếu đây là cách duy nhất có thể bảo vệ hiệu quả mạng sống con người nhằm chống lại những kẻ có ý đồ hãm hại người khác một cách bất công, nhưng những tiến bộ hiện đại trong việc bảo vệ xã hội khỏi những tội phạm nguy hiểm, không nhất thiết đòi hỏi chúng ta phải xử tử những tội nhân đã vi phạm các tội ác ghê ghớm, nếu có đi chăng nữa thì điều này rất hiếm và tưởng chừng không bao giờ xảy ra.19 16 . Xem Francis X. Rocca, “Đức Giáo Hoàng Francis kêu gọi bãi bỏ án tử hình và tù chung thân,” Catholic News Service. Được đăng vào ngày 23 Tháng 10 năm 2014. http://www.catholicnews.com/data/stories/cns/1404377.htm (truy cập 28 tháng 10 năm 2014). 17 . Đức Giáo hoàng Phanxicô khẳng định: “Án tử hình là điều không thể chấp nhận được vì nó tấn công vào tính bất khả xâm phạm và phẩm giá của con người”. Bộ Giáo lý Đức tin cho biết Bộ đã sửa đổi về án tử hình nơi số 2267 của Sách Giáo lý Hội thánh Công giáo, theo đó án tử hình là điều không thể chấp nhận được. Quyết định này được Bộ Giáo lý Đức tin công bố trong “Thư gửi các Giám mục” đề ngày 01 tháng 8 năm 2018, do Đức Hồng y Bộ trưởng Luis Francisco Ladaria ký tên. X. https://tgpsaigon.net/bai-viet/noi-dung-moi-cuasach-giao-ly-hoi-thanh-cong-giao-ve-an-tu-hinh-an-tu-hinh-la-dieu-khong-the-chap-nhan45206. 18 . Xem tài liệu đã trích dẫn ở trên, cước chú số 17. 19 . See Pope Francis calls for abolishing death penalty and life imprisonment.By Francis X. Rocca, Catholic News Service. Published on 23 October 2014. http://www.catholicnews.com/data/stories/cns/1404377.htm (Accessed 28 Oct. 2014) and also Pope to Association of Penal Law: Corruption is Greater Evil than Sin. By Vatican 10 Cùng với một lối suy tư như thế, các nhà thần học đương đại đã biện luận và yêu cầu xóa bỏ hình phạt án tử hình với những lý do sau đây: 1. Các hình phạt tử hình là vô dụng và không cần thiết. Tỷ lệ tội phạm bằng bạo lực gây nên, có lẽ đã không giảm bớt, ngay cả khi ta lưu giữ hình phạt tử hình. Một cách khác có thể được áp dụng để ngăn chặn người vi phạm bằng cách giam giữ họ trong một thời gian dài. 2. Áp dụng hình phạt ántử hình có thể biến xã hội trở nên vô nhân đạo, bằng cách hợp pháp hóa bạo lực như là một chiến lược để đối phó với các hành vi sai trái của con người. Bầu khí hiện nay của bạo lực phản ánh sự thiếu vắng đích thực của công bằng xã hội và sự đoàn kết, đây chính là vấn nạn hiện nay vẫn đang tồn tại và chưa được giải quyết, thay vào đó, ta lại dựa vào bản án tử hình như là một phương tiện để ngăn chặn tội phạm. 3. Hình phạt ántử hình không phản ánh trung trực sự tha thứ, niềm hy vọng, và ơn cứu chuộc, đó chính là trọng tâm của Kinh Thánh. Trong Bài Giảng Trên Núi, Chúa Giêsu hướng dẫn các môn đệ, không nên tìm kiếm sự trả thù cho việc làm sai trái.20 QUAN ĐIỂM KINH THÁNH Những người ủng hộ án tử hình thường xuyên trích dẫn Cựu Ước để biện minh cho lập trường của họ. Trong Sáng thế ký 9:6, chúng ta đọc: “Ai đổ máu con người, thì máu nó sẽ bị con người đổ ra, vì Thiên Chúa đã tạo dựng con người theo hình ảnh Thiên Chúa.” Bất kỳ kẻ nào cố sát người khác là bị giết chết. “Các News – 23 October 2014. http://www.news.va/en/news/pope-to-association-of-penal-lawcorruption-is-gre (Accessed 28 October 2014). 20 . John Berkman and Stanley Hauerwas, “Capital Punishment,” in Paul Barry Clarke and Linzey (eds.) Dictionary of Ethics, Theology and Society. (New York: Routledge: 1996), pp.100-105. 11 ngươi sẽ không được làm nhiễm uế đất các ngươi ở, vì chính máu làm nhiễm uế đất ấy, và không có gì có thể tẩy rửa đất ấy khỏi máu đã đổ ra tại đó, ngoài máu của người đã làm đổ máu. (Các) ngươi sẽ không gây ô nhục cho đất (các) ngươi ở, cũng là nơi Ta ngự; vì Ta là Đức Chúa, Ta ngự giữa con cái Ít-ra-en.” (Ds 35:33-34). Máu của các nạn nhân bị sát hại làm ô uế đất. Cách duy nhất nó được làm sạch lại là ban hành án tử hình cho kẻ giết người. Sau đó, khi Thiên Chúa ban luật pháp cho Môi-sê, một số các vi phạm khác đã được coi như là trọng tội. Đồng thời, luật Môi-sê và sau đó là truyền thống của các Thầy Luật Sĩ Do Thái đã thiết lập một thủ tục tố tụng hết sức nghiêm ngặt đối với các trường hợp liên quan đến án tử hình. Các tiêu chuẩn của bằng chứng cần thiết để kết tội một người nào đó trong trường hợp như vậy, đòi hỏi vượt qua các nghi ngờ, so với các tiêu chuẩn của chúng ta hiện nay, và yêu cầu là nó phải đạt tới sự chắc chắn tuyệt đối. Để buộc tội một người nào đó, yêu cầu ít nhất là có hai người làm chứng và tận mắt họ thấy được sự kiện xảy ra,21 trước khi kẻ bị buộc tội giết người có thể bị hành quyết, và những nhân chứng nào mà làm chứng gian (hoặc nói dối) thì họ cũng lãnh chung một bản án tử hình như bị cáo vậy (xem sách Đệ Nhị Luật, chương 17 và 19). Lẽ đó, trong thực tế, hệ thống luật pháp của người Do Thái rất nghiêm ngặt và chặt chẽ, cho nên rất ít người bị kết án tử hình. Sau đó vào khoảng thế kỷ thứ haián tử hình ít được thực hiện. Trong Tân Ước, câu trả lời của Chúa Giêsu về án tử hình vốn là để làm suy yếu các hình phạt bằng cách đòi hỏi, cả các thẩm phán lẫn đao phủ phải là người vô tội. “Hãy để bất cứ ai trong các ngươi là người vô tội sẽ là người đầu tiên ném đá cô ta.” Ngài nhắc nhở thính giả của mình phải cẩn thận khi họ lên án người khác, bởi vì bản án và sự phán xét của Thiên Chúa không nhất thiết trùng với chúng ta 21 . “Trong mọi trường hợp đánh chết người, người ta sẽ dựa vào lời khai của các chứng nhân mà xử tử kẻ sát nhân. Nhưng lời khai của một chứng nhân duy nhất sẽ không thể làm cho ai bị kết án tử hình.” (Sách Dân số 35:30). 12 (ví dụ: Mat-thê-ô 25, Luca 6). Nếu phán quyết của chúng ta rất có thể sai lầm, làm thế nào chúng ta có thể đưa ra quyết định để tước đoạt một mạng sống? Thêm vào đó, sự tha thứ của Chúa Giêsu đối với người phụ nữ bị bắt ngoại tình quả tang (một hành vi phạm tội dân sự yêu cầu án tử hình) là một ví dụ về lòng thương xót của Ngài. Bằng cách này, Chúa Giêsu thách thức giả định cho rằng, con người có quyền để đưa ra các bản án tử hình, vì họ là Thẩm Phán hay là kẻ hành quyết.22 Ngoài ra, Tân Ước cũng nhấn mạnh rằng các khía cạnh hiến tế của việc tước đi mạng sống đã được hoàn tất “một lần và thay cho tất cả” ngang qua sự hy sinh của Chúa Kitô. Cái chết của Đức Kitô trên thập giá, chính nó là một ứng dụng hình phạt tử hình, xóa đi những nghi lễ thời Cựu Ước và là cơ sở luân lý cho án tử hình (ví dụ như trong thư Do Thái, chương10).23 Không cần phải đổ máu thêm nữa để làm chứng cho sự thánh thiêng của sự sống. Chúa Kitô đã chết để cho những người khác có thể sống. Chúa Giêsu cũng liên tục nhắc nhở chúng ta về trách nhiệm của mình, là chúng ta cần nhìn thấy Chúa Kitô qua những người anh em nghèo khổ, và những người bạn láng giềng đang cần sự giúp đỡ, ngay cả những kẻ thù của chúng ta; chúng ta được dạy bảo và khuyến khích là hãy yêu thương và tha thứ cho những ai đã hãm hại và bách bớ mình. Khi Chúa Giêsu Kitô bị xử tử, Ngài đã đưa ra một mô hình về cách ứng xử đối với kẻ thù, ngang qua những lời lẽ của Ngài trong khi hấp hối: “Lạy Cha, xin tha cho họ.” Bằng cách đó, Chúa Giêsu thay thế luật pháp của sự trừng phạt với lề 22 . God alone is the author of life, therefore only God has the dominion of life, says the National Jewish-Catholic Consultation in a Dec. 6, 1999, report – Origins 29 (1999), 463; Similarly, John Berkman and Stanley Hauerwas, in the same way, would claim it also, “all life, guilty or not, belongs to God and is to be given and taken only by God.” (p. 104). 23 . John Berkman and Stanley Hauerwas, “Capital Punishment,” in Paul Barry Clarke and Linzey (eds.) Dictionary of Ethics, Theology and Society. (New York: Routledge: 1996), p.102. 13 luật hòa giải (Mt 5:23-4). Ngài cũng dạy rằng, là chúng ta cần yêu thương những ai cố ý hãm hại chúng ta, “Ta nói với các con, hãy yêu kẻ thù và cầu nguyện cho những kẻ bách hại các con, để các con có thể trở thành con cái của Cha các con trên trời” (Mt 5:43-45). SUY TƯ VÀ KẾT LUẬN Các quan điểm Thánh Kinh về án tử hình là thích hợp đối với xã hội chúng ta và đặt ra một loạt câu hỏi quan trọng: Nếu hình phạt tử hình không thực sự tiếp tục hổ tương cho các nỗ lực để duy trì trật tự, nếu nó thực sự có thể ảnh hưởng đến các trật tự tốt, thì liệu chính quyền nhà nước sử dụng quyền hạn của họ có thích hợp? Khi Nhà nước trừng phạt tùy tiện và có vẻ phân biệt trong cách thi hành các bản án, đặc biệt là với một hình phạt mang tính cách chung cuộc (ví dụ: án tử hình), thì thử hỏi nhà cầm quyền có thực hiện đúng vai trò mà Thiên Chúa đã ban cho họ hay không? Chúa Giêsu dạy rằng, sự sống thuộc về Thiên Chúa và không phải là của chúng ta để mình hoàn toàn tự quyết định. Chúng ta nên phủ nhận và tẩy chay bản án tử hình, vì nó không phù hợp và tương xứng với các trọng tâm cơ bản của Tin Mừng – đó là sự hòa giải và ơn cứu chuộc. Mối quan tâm của Đức Kitô là cứu chuộc, và Ngài đã cung cấp cho chúng ta một mô hình để làm gương, là chính Ngài đã bằng lòng trao nộp mạng sống ngài cho kẻ thù của mình. Chúng ta cần cho các tội nhân một cơ hội để họ có thể làm lại cuộc đời và chuộc lại những lỗi làm mà họ đã gây nên và điều này không có ngoại lệ, ngay cả đối với kẻ giết người mà chính họ đã không làm điều đó cho nạn nhân của mình. Chúa Giêsu đã không chết chỉ cho một số tội nhân nào đó, Ngài đã chết thay cho tất cả. Việc từ chối tội nhân cái cơ may và khả năng để họ có thể giao hòa với Thiên Chúa và với anh chị em đồng loại của mình, hoặc kết thúc mạng sống của ai đó mà họ đã thực lòng 14 ăn năn thống hối và đã hòa giải thì đó chính là một bi kịch thê lương của án tử hình. Cuối cùng, cuộc tranh luận về án tử hình đã làm cho chúng ta dễ dàng tránh né những vấn đề sâu sắc hơn: nguyên nhân của bạo lực và ý nghĩa của nó đối với cả nạn nhân và người phạm tội. Trước khi chúng ta có thể tìm thấy câu trả lời cho những vấn nạn trên, chúng ta cần phải duyệt xét tận thâm cung của chính mình. Chúng ta phải nhận thức rằng: mỗi người trong chúng ta đã gánh chịu nhiều đau khổ, và mỗi chúng ta, theo một khía cạnh nào đó, đều là nạn nhân. Nhưng chúng ta cũng cần phải xác định được nguồn gốc và cội rễ của bạo lực và của sự bất công đó đang tiềm ẩn và hiện diện bên trong tất cả chúng ta. Chúng ta cần phải thừa nhận sự thất bại và phần đồng lõa của chúng ta, tất cả chúng ta đều phạm tội và trở nên dị dạng so với mẫu người mà chúng ta có thể trở nên và hoàn chỉnh. Vì vậy, chúng ta đều là những người phạm tội và chúng ta đồng thời cũng là các nạn nhân; tất cả chúng ta đều cần ơn cứu rỗi. Chỉ nó khi nào mà chúng ta ý thức và nhận rõ điều này thì chúng ta mới có thể xây dựng một thế hệ tương lai tốt đẹp, mà trong đó, không cần sử dụng đến bạo lực hoặc bạo lực sẽ không cần thiết. “Liệu gia đình nhân loại sẽ hoàn thiện hơn, liệu nhân vị con người sẽ trở nên yêu thương nhiều hơn, trong một xã hội mà mạng đòi mạng, mắt đền mắt, răng đền răng?” Đức Hồng Y Joseph Bernardintự hỏi. Tác giả: L.m. Trần Mạnh Hùng, STD. Email: hungteaching@gmail.com TÀI LIỆU THAM KHẢO.  A Good Friday Appeal to End the Death Penalty.” By the United States Conference of Catholic Bishops,April 2, 1999. 15 Source: http://old.usccb.org/sdwp/national/criminal/appeal.shtml (Accessed 07.10.2012).  Bali Nine: Foreign Minister Julie Bishop makes eleventh-hour bid to save Andrew Chan and Myuran Sukumaran. By Helen Brown and Eliza Borrello– Thursday, 5 March 2015. ABC News.http://www.abc.net.au/news/2015-03-05/bali-nine-executions-not-thisweek-indonesian-president/6281690 (Accessed 5 March 2015).  Francis X. Rocca, “Đức Giáo Hoàng Francis kêu gọi bãi bỏ án tử hình và tù chung thân,” Catholic News Service. Được đăng vào ngày 23 Tháng 10 năm 2014. http://www.catholicnews.com/data/stories/cns/1404377.htm (truy cập 28 tháng 10 năm 2014).  Jewish-Catholic Consultation, “To End the Death Penalty,” Origin 29 (1999), 463.  John Berkman and Stanley Hauerwas, “Capital Punishment,” in Paul Barry Clarke and Linzey (eds.) Dictionary of Ethics, Theology and Society. (New York: Routledge: 1996).  Peter Black, “Do Circumstances Ever Justify Capital Punishment?” Theological Studies 60(1999), 342-3.  Pope Francis calls for abolishing death penalty and life imprisonment. By Francis X. Rocca, Catholic News Service. Published on 23 October 2014. http://www.catholicnews.com/data/stories/cns/1404377.htm (Accessed 28 Oct. 2014).  Pope to Association of Penal Law: Corruption is Greater Evil than Sin.By Vatican News – 23 October 2014. bhttp://www.news.va/en/news/pope-toassociation-of-penal-law-corruption-is-gre (Accessed 28 October 2014).  R. Michael Dunnigan, JD, JCL., “The Purposes of Punishment.” Source: http://www.catholicculture.org/culture/library/view.cfm?recnum=74 53 (Accessed 06.10.2012). 16  “The death penalty: A flawed system we can’t afford to keep.”Published By Times Herald,Posted: 07 Oct, 2012. Source: http://www.timesheraldonline.com/opinion/ci_21719050/deathpenalty-flawed-system-we-cant-afford-keep (accessed 08.10.2012).  Thomas Aquinas, Summa theologiae II-II, q. 64, a.2.  US death row study: 4% of defendants sentenced to die are innocent.By Ed Pilkington in New York. Tuesday 29 April 2014. http://www.theguardian.com/world/2014/apr/28/death-penalty-study4-percent-defendants-innocent (accessed 5 March 2015).  Victorian Supreme Court judgeLex Lasrytold ABC TV’s 7.30 that the death penalty does not deter crime. See Fact check: No proof the death penalty prevents crime.ABC News 26 Feb. 2015. http://www.abc.net.au/news/2015- 02-26/fact-check3a-does-the-death-penalty-deter3f/6116030 (accessed 01 March 2015)

Thứ Năm, 7 tháng 4, 2022

HÔN NHÂN KITÔ GIÁO VÀ KẾ HOẠCH HOÁ GIA ĐÌNH

 

HÔN  NHÂN  KITÔ  GIÁO  VÀ  KẾ  HOẠCH  HOÁ  GIA  ĐÌNH

By Charles E. Curran

Chuyển ngữ do Lm Trần Mạnh Hùng và nhóm dịch thuật của Học Viện

DCCT đảm trách.


Tôi là một nhà thần học luân lý. Tôi dạy trong chủng viện. Có nhiều đêm tôi trằn trọc không ngủ được. Những vấn nạn, những nghi ngờ về giáo huấn của Giáo Hội trong việc điều hoà sinh sản cứ kéo nhau đến trong tâm  trí tôi. Mỗi lần tôi tâm sự với các linh mục về điều đó, các ngài đều luôn đưa ra những vấn đề tương tự như thế. Tại sao việc điều hoà sinh sản là sai? Chúng ta sẽ phải nói gì với các hối nhân của chúng ta đây?

Tôi nghĩ đến một cặp vợ chồng trẻ mà tôi biết. Họ có chín đứa con và sống bằng đồng lương giáo viên của mình. Sau khi họ sinh đứa con thứ tư, một linh mục đã nói với họ rằng, họ không còn lý do nào nữa để thực hiện phương pháp tiết dục định kỳ. Ngài khuyên họ nên cách ly nhau. Thế nhưng họ là vợ chồng của nhau.

Một ngày kia, họ đến và nói với tôi rằng, đêm qua họ đã cùng nhau trao đổi trong việc ái ânmặn nồng, cả hai đều căng thẳng, và người chồng trong khi khoái cảm dâng cao đã xuất tinh ra ngoài. Và họ cùng khóc.

Tôi thiết nghĩ, phần lớn, thái độ của người Công Giáo về việc điều hoà sinh sản là một thái độ tiêu cực hoàn toàn; và có nhiều người Công Giáo cũng đã có một quan niệm tiêu cực chẳng kém về đời sống hôn nhân Ki-tô giáo. Vì đối với họ, hôn nhân có nghĩa là không ly dị, không ngoại tình, không điều hoà sinh sản và phải theo chu kỳ (kinh nguyệt). Vâng, thế thì hôn nhân Ki-tô giáo là gì? Trước tiên, hôn nhân là một bí tích, và bí tích là một cuộc gặp gỡ, là một sự kết hiệp với Đức Ki-tô và Thiên Chúa. Bảy bí tích là bảy cách thế khác nhau, qua đó chúng ta được tiếp xúc với Thiên Chúa. Nơi Bí tích Thanh Tẩy, chúng ta gặp được Cha trên trời của chúng ta, qua Đức Ki-tô, người anh cả của chúng ta. Nơi Bí tích Hoà Giải, tội nhân nghiệm thấy tình yêu và lòng xót thương tha thứ của Cha. Nơi Bí tích Truyền Chức, con người được thông chia chức tư tế duy nhất của Đức Ki-tô-Đấng trung gian của Giao ước mới. Còn nơi Bí tích Hôn Nhân, dưới khía cạnh nào thì người chồng và người vợ sẽ được tiếp xúc với Thiên Chúa?

1

. Hôn Nhân Kitô Giáo và Kế Hoạch Hóa Gia Đình – “Christian Marriage and Family Planning” by Charles E. Curran, Christian Morality Today (Indiana: Fides Publishers, 1966), pp. 47-64. Chuyển ngữ do Lm Trần Mạnh Hùng và nhóm dịch thuật của Học Viện DCCT VN đảm trách.

2

Tình yêu của Thiên Chúa dành cho con người là một giao ước, một khế ước, giống như khế ước hôn nhân. Cựu Ước là một câu chuyện tình của Thiên Chúa, Đấng luôn trung tín với giao ước Người đã lập với Ít-ra-en. Lòng trung tín và yêu thương của Thiên Chúa đã đạt đến điểm cao tột đỉnh trong việc Người ban tặng Con Một của Người để cứu độ thế gian và để thiết lập giao ước mới - giao ước tình yêu vĩnh cửu giữa Thiên Chúa và con người.

Trong hôn nhân Ki-tô giáo, tình yêu mà người chồng và người vợ trao cho nhau đều thông chia và tham dự vào tình yêu của Thiên Chúa dành cho dân Người. Lời “thưa vâng” mà vợ chồng trao cho nhau, cũng chính là lời “xin vâng” của họ đối với tình yêu Thiên Chúa. Thánh Phao-lô bảo: chồng yêu thương vợ giống như Đức Ki-tô yêu thương Hội Thánh của mình, và vợ yêu thương chồng giống như Hội Thánh yêu mến Đức Ki-tô - vị Hôn Phu của mình.

Như tình yêu của Thiên Chúa dành cho dân Người, tình yêu của vợ chồng dành cho nhau cũng như thế, nó dồi dào, sáng tạo và phát sinh sự sống. Mỗi đứa con mà họ sinh ra là dấu chỉ vĩnh hằng của tặng phẩm tình yêu mà họ trao cho nhau. Tình yêu hỗ tương này tạo nên một mái trường mà nơi đó đứa trẻ được giáo dục và phát triển đời sống tự nhiên và siêu nhiên của mình; đồng thời, tình yêu hỗ tương giữa vợ chồng cũng nuôi dưỡng sự hiệp thông của họ với Thiên Chúa. Với cách thức suy nghĩ như vậy, có lẽ chúng ta sẽ dễ dàng hơn để hiểu tại sao Giáo Hội luôn nhấnmạnh rằng tình yêu hôn nhân phải nhắm đến việc phục vụ cho sự sinh sản dồi dào.

Thánh Kinh thuật lại một câu chuyện tương tự như thế về hôn nhân. Trình thuật cổ xưa về việc sáng tạo trong sách Sáng Thế (có hai trình thuật) chỉ đề cập đến khía cạnh hỗ tương và tình yêu của mối tương quan giữa A-đam và E-và. Trình thuật muộn hơn lại nhấn mạnh đến phúc lành của việc sinh sôi nảy nở được ban tặng cho A-đam và E-và, để nhờ họ mà mọi người có mặt trên mặt đất. Thánh Kinh cũng như Bí tích Hôn Nhân đều cho ta thấy rằng hôn nhân là sự hiệp nhất tình yêu trong việc phục vụ sự sống. Một vài người có thể phản đối và cho rằng, việc luận xét hôn nhân như thế thì thật quá lý thuyết, quá lý tưởng, quá thiêng liêng, đó là kiểu suy tư của một nhà thơ hay một nhà thần học có đời sống khiết tịnh. Nhưng tôi tin rằng, có nhiều đôi vợ chồng hiện nay đang sống đời hôn nhân theo đường lối chính đáng này.

Đối với vợ chồng, sự thánh thiện của họ hệ tại ở tình yêu thương nhau và sự dâng hiến cho nhau và cho gia đình. Thánh thiện không đồng nghĩa với “trốn tránh thế gian”. Đối với những người lập gia đình, sự thánh thiện hệ tại ở việc hằng ngày họ noi gương Chúa Ki-tô, Đấng đã ban sự sống của Ngài cho kẻ khác. Một khi vợ chồng yêu thương nhau, và yêu mến gia đình của họ không có nghĩa là họ ít yêu mến Thiên Chúa. Không phải chính Đức Ki-tô đã hoàn toàn hiến dâng chính mình Ngài cho Chúa Cha và cho nhân loại qua cùng một thể thức và một hành động hiến tế duy nhất ấy sao?

3  

Tình yêu là nền tảng của hôn nhân, vậy mà các thần học gia lại nói về tình yêu như là một mục đích thứ yếu của hôn nhân. Tuy nhiên, có lẽ vấn đề về các mục đích của hôn nhân và quan hệ hỗ tương giữa vợ chồng hầu như chỉ là vấn đề ngữ nghĩa học. Theo các nhà thần học như Leon Joseph Cardinal Suenens, Benard Haring,

Marc Oralson và Paul Anciaux thì mục đích thiết yếu không nhất thiết là quan trọng hơn hay chiếm lĩnh vị thế cao hơn; nó chỉ đơn giản có nghĩa là đặc biệt hơn.

Có nhiều mối liên kết tình yêu, chẳng hạn như: mối liên kết yêu thương giữa anh chị em với nhau, giữa bạn bè, thậm chí cũng có mối liên kết tình yêu của một nữ tu yêu Chúa Ki-tô, vị Hôn Phu của mình. Như thế, điều gì sẽ giúp ta có thể phân biệt tình yêu hôn nhân với những mối liên kết tình yêu khác? Điều giúp ta phân biệt, đó là: tình yêu hôn nhân thì phục vụ sự sống, đặc biệt là sự sống phát sinh từ sự kết hợp giới tính của hai vợ chồng, như là một cách diễn tả bên ngoài sự kết hợp bên trong của hai tâm hồn họ. Hiến chế về Giáo Hội Trong Thế Giới Ngày Nay (Gaudium et Spes), một cách khôn ngoan, đã tránh sử dụng thuật ngữ mục đích thiết yếu và mục đích thứ yếu.

Thật cũng cần thiết nghiêm túc nói rằng: tính dục là tốt, bởi vì bất cứ những gì do Thiên Chúa tạo nên đều là tốt. Tuy nhiên, thật cũng không thể chối cãi rằng, vào những thời điểm khác nhau của lịch sử Giáo Hội, dưới ảnh hưởng của các nhà lạc giáo, mà các vị này đã tuyên bố rằng tất cả những gì là vật chất, đặc biệt là tính dục, thì đều là xấu cả, làm cho nhiều nhà tư tưởng Ki-tô giáo có cái nhìn bi quan thái quá về tính dục. Chẳng hạn như có một số Giáo Phụ đã liên kết tính dục và khoái lạc tình dục với nguyên tội: thánh John Chrysostom đã nghĩ rằng nếu không phải vì tội nguyên tổ, hẳn Thiên Chúa đã ban phát cho con người một cách thức

khác trong việc sinh sản; còn thánh Augustine lại tin rằng sẽ mắc tội nhẹ khi quan hệ vợ chồng, trừ phi sự quan hệ ấy nhắm đến mục đích là sinh con hay thể theo đúng đòi hòi của người vợ hoặc người chồng mình và chỉ nhằm để giữ anh ấy (hay cô ấy) khỏi rơi vào tội lỗi. Ngày nay, nói chung, Ki-tô hữu đã có một thái độ quân bình và tích cực hơn đối với vấn đề tính dục, mặc dù, ở một vài nơi, những mê tín cổ hũ vẫn còn giữ lấy cái nhìn xưa. Trong bất cứ hoàn cảnh nào, cũng nên nói rõ rằng quà tặng tình yêu mà vợ chồng trao cho nhau trong từng ngày được gói gém một cách đầy đủ ý nghĩa qua hành vi tính dục.

Mối liên kết giữa tính dục và sinh sản thì thật rõ ràng. Tình yêu có thể được diễn tả bằng nhiều cách khác nhau: một nụ cười, một lời nói, một nụ hôn, một món quà -  nhưng không có hành vi nào khác có thể dẫn đến việc sinh sản ngoài hành vi tính dục. Khi ban cho con người cơ quan sinh dục, hẳn Thiên Chúa đã nhắm đến mục đích sinh sản. Vì thế, tính dục nên được nhìn nhận trong mối tương quan với hôn nhân toàn thể, với sự kết hợp của tình yêu trong việc phục vụ sự sống. Vào những tuần trước khi sinh con, hay những lúc chồng hoặc vợ bị bệnh, tình yêu đòi buộc rằng ở những thời điểm đó không nên có những hành vi diễn tả tính dục, chẳng hạn

như việc giao hợp. Một số người phản đối rằng bất cứ việc kiểm soát hay hạn chế tính dục nào cũng đều phá hủy tính tự phát của tình yêu, thế nhưng mọi bản năng của con người đều phải đạt dưới sự kiểm soát của lý trí.

4.

Tình yêu và những cử chỉ biểu lộ ái ân của nó phải là một sự trao ban thiết thân, chứ không chỉ là do sự thúc đẩy của bản năng. Ngang qua việc làm chủ tình cảm mà tính dục được xem là một thực tại cao cả của tình yêu. Quả thật, chính trong sự thiết thân sâu xa, đặc biệt trong mối tương quan giữa tình yêu và tính dục của con người, mà từ đó giáo huấn của Giáo Hội Công Giáo đã được bắt nguồn và chúng ta dạy phải biết tiết chế trong đời sống hôn nhân gia đình.

Tiết chế tính dục thì thật cần thiết, vì một lý do thực tế, đó là những cặp vợ chồng Ki-tô giáo chỉ nên đưa vào cuộc đời những đứa con mà họ có thể chăm sóc và giáo dục đàng hoàng thành những Ki-tô hữu chân chính. Cũng vậy, họ không nên có quá nhiều con, vì như thế sẽ gây nguy hại cho sức khỏe, tinh thần, thể lý và tâm lý của họ. Sự sinh sản của con người không đơn thuần theo như khía cạnh sinh học; nó phải luôn là một sự diễn tả tình yêu đích thực. Vì thế, các đôi vợ chồng Ki-tô giáo nên cẩn trọng sắp xếp thời gian thụ thai từ đứa này đến đứa khác sao cho có một khoảng cách phù hợp.

Vậy, một đôi vợ chồng Công Giáo thì nên có mấy đứa con? Hai đứa? bốn đứa? Hay sáu đứa? Chỉ có chồng và vợ, trong cầu nguyện, đối thoại với nhau và với Chúa, mới có thể trả lời được câu hỏi đó, vì chỉ có họ mới có thể quyết định số con cái mà họ ước muốn cho chào đời mà thôi. Không một linh mục hay một cha giải tội nào có thể quyết định thay họ. Câu trả lời cho câu hỏi - phải có mấy đứa con - sẽ thay đổi theo mỗi cặp vợ chồng. Sự quảng đại không thể đo lường bằng những con số.

Cùng lúc, trong thực tế, khi tình huống xuất hiện, nó không đơn giản như người ta nói rằng một khi Giáo Hội Công Giáo đã tin vào trách nhiệm làm cha làm mẹ hay tin vào phương pháp điều hòa sinh sản, thì không nên quá tranh cãi về phương pháp hầu đạt tới mục đích thỏa đáng; cứ hình thức nào đơn giản nhất và hiệu quả nhất cho việc áp dụng phương pháp điều hoà sinh sản là cứ sử dụng. Song, giáo huấn của Giáo Hội Công Giáo lại chống đối việc ngừa thai và phương pháp điều hoà sinh sản nhân tạo, bởi vì nó phá hủy hành vi hôn nhân là sự diễn tả tình yêu duy nhất trong việc phục vụ sự sống. Khi có bất cứ một thứ rào cản nào được đặt giữa chồng và vợ, thì hành vi tính dục không còn biểu trưng cho sự dâng hiến hoàn

toàn của tình yêu. Hành vi ấy không diễn tả trọn vẹn sự dâng hiến bản thân mà vợ chồng trao cho nhau như là tặng phẩm tình yêu. Khi ngừa thai, con người đã thực sự ngăn cản hành vi tính dục, đến nỗi nó không thể đưa đến việc thụ thai. Dĩ nhiên, con người không thể tự mình sinh sản. Sự hiện hữu của sự sống mới là một tặng phẩm của Thiên Chúa. Hành vi duy nhất mà con người có thể làm là mở ra cho việc truyền sinh. Quả thật, trong việc ngừa thai thì người ta đã loại trừ cái khả năng truyền sinh.

5

Con người sử dụng những hiểu biết của mình về những ấn định tự nhiên của Thiên Chúa vào phương pháp tiết dục định ky dành cho người phụ nữ, ấn định tự nhiên ấy là một người phụ nữ chỉ có thể thụ thai trong một giai đoạn ngắn của mỗi chu kỳ kinh nguyệt. Ngừa thai thì không đòi hỏi phải kiềm chế hay hy sinh. Còn tiết dục định kỳ thì lại đòi hỏi phải hy sinh; chồng và vợ không thể quan hệ bất cứ lúc nào mình muốn. Tuy nhiên, Giáo Hội không kêu gọi hy sinh chỉ vì hy sinh, nhưng hy sinh vì một giá trị cao cả hơn. Tình yêu là giá trị cao nhất trong bất cứ cuộc hôn

nhân nào, và việc hy sinh một chút khoái lạc và vui thú là một phần của tặng phẩm tình yêu. Não trạng ngừa thai có thể dễ dàng nhốt con người vào trong thế giới của giác quan, mà thế giới của giác quan thì khép lại với bất cứ giá trị nào cao hơn chính nó.

Khổ chế Ki-tô giáo, cho dù nó ở trong hôn nhân hay ngoài hôn nhân, nó cũng không tiêu cực, cũng chẳng khắc kỷ. Khổ chế là sống từng ngày Bí tích Thánh Tẩy của mình, chết đối với mình và sống lại trong sự sống mới. Điều nghịch lý hơn cả của Ki-tô giáo là: chính lúc mất đi là lúc chúng ta tìm thấy, chính lúc cho là lúc chúng ta nhận, chính lúc chết đi là lúc chúng ta sống thật sự. Cây thập giá không chỉ hiện hữu bởi nó hay cho chính nó. Cây thập giá chính là con đường dẫn tới phục sinh.

Bất cứ lúc nào, khi vấn đề điều hoà sinh sản được đề cập đến, qua phương tiện truyền thông đại chúng, qua các nhà bình luận truyền hình hay các nhà báo, thì kết luận cuối cùng vẫn không bao giờ thay đổi, với việc tuyên bố rằng: mọi người đang mong chờ một ngày kia khoa học sẽ cung cấp một loại thuốc ngừa thai với giá rẻ, an toàn, đáng tin và có thể được mọi người ở mọi tôn giáo đều chấp nhận.

Niềm hy vọng này không quá đáng, tuy vậy, chúng ta cũng nên đề phòng chống lại thứ ảo tưởng cho là có những giải pháp đơn giản, dễ dàng cho mọi vấn đề của con người. Thứ phương pháp ngừa thai rẻ và hiệu quả trong các hộc tu của phòng tắm sẽ không bao giờ giải quyết được những vấn đề của hôn nhân. Ki-tô hữu, cách đặc biệt hơn, chúng ta không bao giờ nên đánh mất cái nhìn chân thực này: trong thế giới này, chúng ta là khách hành hương, đang trên hành trình tiến về cõi vĩnh hằng.

Giải pháp tối hậu cho mọi vấn đề của con người, kể cả hôn nhân, đó là thái độ sẵn sàng của Ki-tô hữu đối với việc bắt chước Chúa Ki-tô, Đấng đã hiến dâng sự sống mình cho Cha và cho nhân loại.

Tuy nhiên, có một số Ki-tô hữu dường như mắc phải lỗi ngược lại là trao phó mọi sự trong bàn tay quan phòng của Thiên Chúa. Thế nhưng, Thiên Chúa lại muốn có sự cộng tác của chúng ta trong công trình xây dựng trời mới đất mới, và vì thế, chúng ta phải sử dụng khoa học và kỹ thuật trong việc phục vụ Nước Thiên Chúa.

Lẽ ra, từ lâu, các tín hữu Công Giáo đã phải nghiên cứu một cách khoa học để có thể áp dụng và thực hiện phương pháp tiết dục định kỳ. Như hiện nay, phương pháp tiết dục định kỳ chỉ mới đang bắt đầu xuất hiện ở Giáo Hội địa phương. Và chúng càng ngày càng được nghiên cứu tới nơi tới chốn, để cuối cùng chúng ta có thể đạt đến một giải pháp thỏa đáng cho vấn đề điều hoà sinh sản. Nhưng nếu giả như việc ấy có xảy ra đi chăng nữa thì hôn nhân vẫn là sự hiệp nhất tình yêu trong việc phục vụ sự sống. Thập giá của Chúa Ki-tô và sự phục sinh của Người sẽ tiếp tục ngã bóng và chiếu soi ánh sáng của nó trên mỗi cuộc hôn nhân cũng như trên

mỗi nỗ lực của con người.

NHỮNG ÁP DỤNG THỰC TẾ

Trước hết, cha mẹ và thầy cô Công Giáo phải triển khai nơi con cái mình một thái độ tích cực đối với tính dục, và xem nó như một phần của việc giáo dục hôn nhân gia đình. Tương tự như thế, giáo huấn Công Giáo và việc chuẩn bị hôn nhân phải được cân nhắc lại. At nhiên đời sống hôn nhân Ki-tô giáo thì phong phú hơn là chỉ hệ tại ở việc tuân thủ ba điều luật: không ly dị, không ngoại tình và không điều hoà sinh sản. Dựa vào đức khiết tịnh đã được vun đắp trong thời niên thiếu, các cặp đính hôn nên được trợ giúp để hiểu sự cần thiết của việc tiết dục trong hôn nhân.

Thường ai cũng bước vào hôn nhân với những ý định tốt đẹp nhất, song đa số lại không được chuẩn bị cho những vấn đề và những khó khăn mà họ sẽ gặp phải. Một đôi vợ chồng trẻ Công Giáo nên cố gắng tránh những tình trạng nan giải là có năm đứa con trong năm năm, chỉ vì sau đó họ sẽ nhận ra rằng họ không nên có con nữa, mặc dù nhiều năm sau, họ vẫn còn khả năng sinh con.

Một áp dụng thực tế cho những thiếu nữ đã đính hôn, đó là giúp họ ghi lại chu kỳ kinh nguyệt của mình, một năm trước khi kết hôn theo sự hướng dẫn của một y sĩ.

Những hướng dẫn của phòng mạch về phương pháp tiết dục định kỳ không giới hạn chỉ phục vụ cho những bà mẹ và những phụ nữ đã kết hôn, nhưng chúng cần được mở ra cho các thiếu nữ còn độc thân hay đã đính hôn, nhờ đó chúng có thể giúp các cô thu thập và lập biểu đồ. Ghi lại từ 8 đến 13 chu kỳ kinh nguyệt của mình nhằm có thể áp dụng phương pháp tiết dục định kỳ cách hiệu quả nhất. Nếu một cô gái mang thai ngay những tháng đầu khi vừa kết hôn, thì cô ta sẽ có thể không bao giờ có lại cơ hội lập biểu đồ kinh nguyệt của mình cách chính xác nữa.

Thời gian và những phiền phức cộng với việc chuẩn bị thực hiện phương pháp định kỳ nên được xem như là một cách diễn tả tình yêu của cô ấy với người chồng tương lai của mình.

Tôi biết rằng hiệu quả của việc sử dụng phương pháp tiết dục định kỳ đã được tranh luận rất sôi nổi trong giới Ki-tô giáo, và đã được Robert G. Potter, Jr. của Đại Học Brown bình luận trong tạp chí “Science” (27/3/1964): Hiệu quả của phương pháp tiết dục định kỳ “đã không được biết cách chính xác và có lẽ sẽ không bao giờ có được sự chính xác, vì những hình thức đa dạng của phương pháp này hệ tại ở việc sử dụng và động lực thúc đẩy việc thực hiện phương pháp này - hay bất cứ phương pháp ngừa thai nào khác - những thay đổi chính yếu phần lớn phụ thuộc

vào đôi vợ chồng ấy có muốn duy trì một khoảng cách trong việc thụ thai hay không, hoặc chỉ đang cố gắng ngăn chặn việc thụ thai vì họ không muốn có con. Cho đến nay, những hướng dẫn trong việc thực hiện phương pháp tiết dục định kỳ thì kém hiệu quả hơn những kỹ thuật như bao cao su hay vòng cao su và thuốc kem giết tinh trùng, nhưng chắc chắn là phương pháp tiết dục định kỳ không phải là vô hiệu quả như người ta đã ám chỉ.” Potter cũng đã trích dẫn những nghiên cứu khoa học khác mà có kết luận tương tự như trên.

Tiến sĩ John Marshall, một bác sĩ người Anh, trong một cuốn sách xuất bản gần đây “The Infertile Period” (Thời kỳ không thụ thai), đã tuyên bố rằng: “Với những con số mà chúng ta có được, đã không đề nghị là việc sử dụng thời kỳ không thụ thai nhằm tránh việc có con thì kém hơn so với các phương pháp ngừa thai khác.”

Tiến sĩ Marshall cũng đã bác bỏ khẳng định cho rằng ở người phụ nữ, việc khao khát quan hệ tính dục mãnh liệt nhất là vào thời kỳ rụng trứng. Thật lý thú để ghi lại đối chiếu giữa những lời tuyên bố thận trọng và trung dung của các nhà khoa học với những quan điểm nông cạn, vội vàng của những người không chuyên môn.

Vậy, riêng đối với những cặp vợ chồng đã kết hôn và gặp phải khó khăn trong việc sinh con có khoảng cách thì sao? Khi những người đó đến xin tôi lời khuyên, tôi thường đưa ra bốn điểm sau:

1. Hai vợ chồng phải nhận ra vị trí cao cả của tình yêu và sự cần thiết trong việc bày tỏ tình yêu của mình bằng mọi cách thế có thể. Trong khi giải tội, tôi thường hỏi người phụ nữ xưng tội rằng, chồng cô thích món tráng miệng nào nhất?

Thường cô ta ngạc nhiên trước câu hỏi đó, và cô ta ngạc nhiên hơn nữa khi tôi hỏi cô có sẵn lòng nướng cho chồng một chiếc bánh mà chồng ưa thích như là việc đền tội của mình không. Một việc đền tội như thế thì hẳn có lợi hơn so với việc lẩm nhẩm vài câu kinh, vì việc làm ấy nhắc nhở người vợ nhớ rằng suốt đời cô ta là sống cho lời thề mà cô đã hứa trong ngày kết hôn. Không phải lúc nào tôi cũng thấy được những kết quả của những việc đền tội như thế này. Nhưng vào một sáng Chúa Nhật kia, một người đàn ông đến chặn tôi ở ngoài nhà thờ để nói rằng, anh ta vừa mới mua cho vợ một máy rửa chén. Anh ta không bao giờ biết sự cực nhọc củ

việc rửa chén là gì cho đến khi tôi ra cho anh một việc đền tội là giúp vợ mình rửa chén.

2. Một cặp vợ chồng thực hiện phương pháp tiết dục định kỳ thì không thể kỳ vọng họ sống như là anh em. Ngay cả các nhà luân lý nghiêm khắc nhất cũng cho phép có “những hành vi vừa phải” giữa hai vợ chồng. Có những lúc, khi họ cảm thấy cần phải diễn tả tình yêu của mình bằng một cách thức tính dục, thì không có nghĩa là họ có ý định muốn quan hệ tính dục trọn vẹn, nhưng chỉ là những cử chỉ âu yếm thân mật như là một sự diễn tả và dấu chỉ tình yêu của họ.

Nếu như chồng đạt đến cực khoái, thì họ cũng không cần phải hoàn tất hành vi đó, nếu họ có những lý do chính đáng vì không muốn có con vào thời gian này, thì điều đó không có tội.

Trong quá khứ, nhiều người Công Giáo đã quá nhấn mạnh đến việc xuất

tinh, một phản ứng thuần tuý máy móc và thể lý. Về mặt luân lý, việc xuất tinh tự nó không tốt cũng không xấu. Tinh trùng xuất ra trong lúc ngủ ban đêm hay trong khi bơi lội, cởi ngựa (một ví dụ điển hình của các nhà luân lý thế kỷ 17). Qua những việc này, tinh trùng xuất ra một cách gián tiếp, nghĩa là hành vi được thực hiện theo một mục đích hợp lý và không đưa đến cực khoái và xuất tinh. Phải chăng thật không hợp lý tí nào khi không cho phép (ngay cả lúc thúc bách) hai vợ chồng bày tỏ tình cảm của mình cho nhau, qua những cử chỉ âu yếm, dẫu biết rằng điều ấy có thể dẫn đến khoái cảm cực độ?

Một lời dạy như thế sẽ có nguy cơ bị lạm dụng, song lời nói ấy nên được

hiểu như thế này là những cặp vợ chồng này không hề muốn hay có ý định quan hệ tính dục trọn vẹn, cũng như không có một sự ưng thuận nào hay một chấp thuận tự nguyện nào trong việc đạt tới cực khoái. Họ chỉ có ý làm những gì mà những nhà luân lý gọi là "những hành vi vừa phải." Để xác định xem tình yêu và lòng chung thủy có phải là những động lực đích thật của họ không, thì đôi vợ chồng ấy phải nhìn lại toàn bộ đời sống hôn nhân của mình. Nếu trong những khía cạnh khác của đời sống uyên ương, họ đang cố gắng sống kết hợp yêu thương trong việc phục vụ sự sống, thì ước muốn tính dục và sự âu yếm họ trao cho nhau chính là sự diễn tả

tình yêu đích thực, không ích kỷ. Một số người sợ rằng những ân ái như thế, đặc biệt những lúc chúng gián tiếp đưa đến cực khoái, thì chúng sẽ tạo sự căng thẳng giữa hai vợ chồng vì chúng không đạt tới tuyệt đỉnh của sự kết hợp trọn vẹn. Ngược lại, khi từ chối mọi ân ái thì vợ chồng dễ có xu hướng xa cách nhau và tìm cách khác để giải tỏa những khuynh hướng tình dục của mình vào những thú vui khác, hay làm việc cần mẫn hơn, hoặc không còn chung thủy với nhau nữa. Qua những hành vi ân ái, họ có thể diễn tả tình cảm của mình cho nhau, mặc dù họ hy sinh việc ân ái trọn vẹn. Quả thật, sự hy sinh này trở nên một phần của tặng phẩm tình yêu mà họ trao cho nhau.

3. Những đôi vợ chồng Ki-tô giáo nên nhắm đến việc ngày càng trưởng

thành hơn trong sự tự chủ. Khổ chế thật cần thiết trong đời sống của mỗi Ki-tô hữu, song khổ chế không phải chỉ là từ bỏ một điều gì đó. Chúng ta từ bỏ một điều tốt vì một điều tốt hơn. Khổ chế dẫn chúng ta đến sự tự do đích thực của con cái Chúa, Đấng không hề cưỡng bách bất cứ một thụ tạo tốt lành nào.

4. Sự trưởng thành trong đời sống thiêng liêng của vợ chồng hệ tại ở chính

việc tiếp xúc với Chúa Ki-tô Phục Sinh trong các bí tích. Chính nơi các bí tích, Kitô hữu nghiệm được ý nghĩa và thực tại của tình yêu đích thực. Nhờ việc tiếp xúc với Chúa Ki-tô qua các bí tích, hai vợ chồng lớn lên trong tình yêu mà họ dành cho nhau và đối với Thiên Chúa.

Tôi luôn luôn nhấn mạnh rằng, trưởng thành trong sự tự chủ là một tiến trình tiệm tiếm, đặc biệt đối với những đôi vợ chồng quen dùng phương pháp ngừa thai nhân tạo. Những ai đang học để lớn lên trong tình yêu và sự tự chủ thì sẽ gặp một số thất bại, song những hành vi (thất bại) ấy theo chủ quan thì không bị xem là có tội (chúng là thói quen hơn là cố ý). Với điều kiện là đôi vợ chồng ấy đang nỗ lực hoàn thiện thực sự. Cuối cùng, tội không phải là một hành vi bên ngoài, song là một tình trạng bên trong hay là một khuynh hướng được diễn tả qua những hành vi bên ngoài. Các đôi vợ chồng cần phải được lớn lên trong tình yêu và trong sự tự chủ của mình. Điều này không đến với họ ngay lập tức hoặc họ không cầu nguyện

và nỗ lực.

Có nhiều đôi vợ chồng ngày nay mắc phải tội ngừa thai nhân tạo. Tội này

không phải là tội mà truyền thống gọi là Onanism (tội onan), tiêu biểu cho thái độ ích kỷ, hoàn toàn khép lại với việc phục vụ sự sống (Nhiều người thực hành phương pháp ngừa thai nhân tạo ngày nay đã và đang quảng đại phục vụ sự sống).

Thông thường, việc điều hoà sinh sản ngày nay là một dấu chỉ của một khó khăn trong việc hội nhập giới tính con người trong toàn nhân tính.

Các nhà thần học và các linh mục phải quan tâm hơn là chỉ nói bằng môi

miệng về các nguyên tắc luân lý đối với việc làm cha mẹ có bổn phận. Có những lúc, vì sức khõe của bà mẹ và vì lợi ích của gia đình đòi hỏi bà mẹ không được mang thai trong tình cảnh đó. Với những hoàn cảnh chắc chắn như thế thì liều lĩnh mang thai sẽ là một tội ác lớn hơn là việc sử dụng các phương pháp ngừa thai. Sự công bằng và lòng nhân ái đối với người vợ và gia đình phải vượt lên trên đức khiết tịnh và việc làm chủ bản năng tính dục. Mặc dù, ngừa thai nhân tạo, xét theo khách quan, là sai, nhưng nhiều khi, khách quan mà nói, giữa hai cái xấu luân lý thì ngừa thai nhân tạo ít xấu hơn. Các nhà thần học thừa nhận rằng, trong những tình huống như vậy, một cha giải tội có thể khuyên chọn cái ít xấu hơn giữa hai cái xấu (The lesser of two evils).

Có thể thay đổi giáo huấn hiện nay của Giáo Hội về vấn đề điều hoà sinh sản không? Nó có thể thay đổi, nhưng điều đó không có nghĩa là sẽ thay đổi. Dầu sao đi chăng nữa, thì giáo huấn được chấp nhận trong Giáo Hội ngày nay không trực tiếp là vấn đề đức tin. Có một vài thần học gia, đã chống lại đa số, cho rằng giáo huấn về vấn đề ngừa thai trong Thông điệp Casti Connubii là một vấn đề được xác định là thuộc lãnh vực đức tin. Một số các thần học gia khác lại duy trì đây trực tiếp là vấn đề đức tin, vì phát xuất từ giáo huấn phổ quát của tất cả các giám mục của Giáo Hội. Những khẳng định như thế thật khó chứng minh. Toàn bộ vấn nạn về việc ngừa thai thì khá phức tạp đến nổi khó có thể đưa ra một lời tuyên bố nào

về nó, chứ đừng nói chi đến việc chứng minh. Bất cứ sự hiểu biết nào về tiến trình lịch sử của giáo huấn Giáo Hội trong vấn đề hôn nhân thì đều làm cho người ta thận trọng trước những tranh luận chống lại sự thay đổi dựa trên giáo huấn phổ quát và huấn quyền của Giáo Hội.

Tuy nhiên, trong giáo huấn chính thức của Giáo Hội đã lên án vấn đề ngừa

thai (ví dụ dùng bao cao su ngăn trở hành vi vợ chồng) thì mạnh mẽ và nghiêm trọng hơn việc lên án vấn đề triệt sản (như thắt ống dẫn tinh hoặc cột buồng trứng nhằm ngăn cản khả năng sinh sản). Thuốc ngừa thai chỉ được đề cập đến một lần trong giáo huấn chính thức của Giáo Hội - huấn thị của Đức Giáo Hoàng Piô XII vào tháng 9/1958. Theo Đức Giáo Hoàng, nếu sử dụng những viên thuốc ấy cho việc ngừa thai và không có mục đích trị liệu thì chúng thật trái luân lý. Trong những vấn đề này, người Công Giáo chỉ buộc chấp nhận tuân phục giáo huấn của Giáo Hoàng vì sự vâng phục, chứ không buộc phải tin, trừ phi chứng minh ngược lại.

Các nhà thần học vẫn có quyền đặt vấn đề. Dẫu vậy, chúng ta có trách nhiệm tìm kiếm sự thật và chúng ta mang ơn đối với những bậc cha mẹ Công Giáo đang cố gắng sống đời sống Ki-tô hữu. Sự kiện chính là giáo huấn của Giáo Hoàng về điều hoà sinh sản đặt căn cứ trên luật tự nhiên, đây lại là một lý do thêm vào để các nhà thần học nghiên cứu luật tự nhiên sâu xa hơn và rồi có thể đem áp dụng luật tự nhiên vào những tình huống đặc biệt. Nói chung, việc thảo luận thần học nên được tổ chức trên các tạp chí thần học, nhưng về chủ đề kế hoạch hoá gia đình, điều này đã gây ảnh hưởng rộng lớn trực tiếp trên nhiều người Công Giáo. Cho nên xét ra có vẻ cần thiết để quả quyết với những Ki-tô hữu Công Giáo rằng, các nhà thần học đang đặt những vấn đề và đồng thời họ cũng biểu lộ cho thấy cái ý chung của họ. Song, phải chăng những đôi vợ chồng Công Giáo lại đơn thuần ngồi chờ câu trả lời? Không phải tất cả đều là thế. Hầu hết họ không thể giải quyết các vấn đề thần học, nhưng họ có nhiều kinh nghiệm để chia sẻ với các thần học gia; Vì rốt cuộc, họ chính là những người sống đời sống hôn nhân từ ngày này sang ngày khác dưới sự hướng dẫn và tác động của Chúa Thánh Thần. Các nhà thần học sẽ được lợi ích hơn khi họ được các đôi vợ chồng chia sẻ những kinh nghiệm hữu ích, những cái nhìn sâu sắc và nguồn cảm hứng của họ trong đời sống hôn nhân. Tuy nhiên, để cho cuộc đối thoại có kết quả tốt lại phụ thuộc vào sự ràng buộc của cả

đôi bên. Các nhà thần học không nên từ chối nói chuyện với những đôi vợ chồng không hiểu biết thần học, và những đôi vợ chồng ấy không nên gạt bỏ các nguyên tắc thần học, xem đó như là những lời lải nhải của những kẻ không có kinh nghiệm trong bậc sống gia đình.

Những vấn đề mà các nhà thần học ngày nay nêu lên đều quan tâm cách đặc biệt về vấn đề thuốc ngừa thai và ý nghĩa của các nguyên tắc triệt sản trực tiếp.

Dựa theo quan điểm của Đức Giáo Hoàng Piô XII, giáo huấn hiện thời về những vấn đề này liên quan đến hai nguyên tắc thần học: Nguyên tắc toàn phần và hậu quả song đôi. Nguyên tắc toàn phần chủ trương rằng những cơ quan và những bộ phận của cơ thể đều được cấu tạo trực tiếp cho lợi ích của toàn thân; do đó nếu cần thiết để hy sinh một phần của thân thể nhằm bảo vệ toàn thân thì có thể thực hiện.

Vì thế, một cánh tay hay một chân bị nhiễm độc thì vì lợi ích của toàn thân thể, ta có thể cắt bỏ đi.

Các cơ quan sinh sản thì lại mang tính song đôi: chúng là những bộ phận của cơ thể con người, nhưng đồng thời chúng lại mang chức năng xã hội và được tạo nên vì một mục đích khác - sinh sản. Con người có thể can thiệp, khi các cơ quan sinh sản trong khía cạnh riêng biệt của nó đang hoạt động không đúng chức năng, hay đang gây nguy hại cho toàn bộ cơ thể. Ví dụ, một bác sĩ có thể cắt bỏ một tử cung bị ung thư, cho dù hậu quả sau đó là người phụ nữ ấy sẽ không thể có khả năng thụ thai và sinh con được nữa. Một việc làm như thế người ta gọi là triệt sản gián tiếp: việc triệt sản này là hậu quả của hành động giải phẫu, nhưng hậu quả ấy không do chủ ý của bác sĩ. Con người không thể can thiệp, vì lợi ích của toàn thân thể, khi việc sinh sản có lẽ sẽ gây nguy hại cho toàn cơ thể. Ví dụ, nếu việc mang thai gây khó khăn cho tim mà thôi, thì bác sĩ không thể thắt ống dẫn trứng. Một việc làm như thế bị gọi là triệt sản trực tiếp, vì hậu quả của việc triệt sản này là có chủ ý, như thể là cách thế để bảo vệ sức khỏe của bà mẹ. Liên quan đến những trường hợp trên, Đức Piô XII đã nói: “Mối nguy hại chỉ xuất hiện khi hoạt động tính dục tự nguyện dẫn đến việc

mang thai, mà việc mang thai này có thể đe dọa đến những cơ quan suy yếu và bị nhiễm bệnh như đã đề cập trên. Những điều kiện để cho ta được phép cắt bỏ một bộ phận vì lợi ích của toàn thân thể, dựa theo những lý lẽ của nguyên tắc toàn phần không đầy đủ ở đây. Vì thế, về mặt luân lý, thật sự không được phép can thiệp đối với ống dẫn trứng vẫn còn khả năng hoạt động tốt.”

Theo Đức Piô XII: “Bằng việc triệt sản trực tiếp, chúng ta thực hiện một

hành vi mà mục đích của hành vi này là làm mất đi khả năng sinh sản, hành vi này có thể được xem như là một phương tiện hoặc cứu cánh không?” Đức thánh Cha đã công nhận rằng có những lý do hợp lệ để sử dụng thuốc ngừa thai, nhưng ngài nói tiếp “Việc can thiệp trực tiếp, do đó được coi như là triệt sản bất hợp lệ diễn ra khi trứng bị ngăn cản để bảo vệ tử cung và bộ phận sinh sản khỏi những hậu quả của việc thụ thai. Cũng giống như vậy, ta nên cần thiết khước từ quan điểm của một số các bác sĩ và các nhà luân lý cho phép sử dụng thuốc ngừa thai khi mà những dấu chỉ của nghành y khoa cho thấy việc thụ thai sau này có thể gây rắc rối.”

Những cuộc tranh luận chống lại giáo huấn trên chủ yếu đều do các nhà thần học Au Châu khởi xướng. Canon Louis Janssens, người Bỉ, trong tác phẩm Ephemerides Theologicae Lovanienses (tháng 12/1963), đã đưa ra một lối tranh luận khá đặc biệt. Ông nói: nếu thuốc ngừa thai là triệt sản trực tiếp thì phương pháp tiết dục định kỳ cũng là triệt sản trực tiếp. Việc hợp giao vào thời kỳ trứng chưa rụng nhằm mục đích không thể thụ thai. Để phản đối lại cái luận điệu cho rằng nơi những phương pháp tiết dục định kỳ thì không có một sự can thiệp tích cực đối với tự nhiên, so với việc sử dụng thuốc ngừa thai, Canon Louis Janssens đã trả lời như sau: Đối với phương pháp tiết dục định kỳ, thời gian được sử dụng như là một cách thế trong việc tránh thụ thai. Ông đặt câu hỏi: vậy có cái gì khác biệt

nếu như thời gian (time) hoặc không gian (space) được sử dụng để tránh việc ngừa thai? Hơn thế nữa, ông còn khẳng định rằng, phương pháp tiết dục định kỳ liên can đến một sự hủy diệt tự nhiên thậm chí còn lớn hơn là dùng thuốc, vì người phụ nữ sử dụng phương pháp này để hủy trứng trong mỗi chu kỳ kinh nguyệt của mình (trứng sẽ chết nếu không gặp tinh trùng). Còn thuốc ngừa thai thì không hủy trứng, nhưng nó bảo vệ trứng cho tới khi người phụ nữ ấy muốn trứng đó được thụ tinh.

Louis Dupre, một nhà thần học giáo dân, sinh tại Pháp, tốt nghiệp ở Louvain, và hiện nay đang dạy ở Đại Học Georgetown, trong bài viết in ở tạp chí Gross Currents (mùa đông, 1964), đã nói rằng, luật tự nhiên thì sống động và không bất di bất dịch. Cách đặc biệt, ông đã đặt vấn đề về giá trị của sinh học và yếu tố sinh sản trong hôn nhân. Ông nhấn mạnh, những hành vi cá biệt mà qua đó con người đạt được mục đích của họ thì không phải là tuyệt đối. Và giá trị của việc sinh sản không tồn tại riêng biệt nhưng liên quan đến mọi giá trị khác trong sự phức hợp tổng thể của con người. Theo quan điểm của Dupre, mọi giá trị đều được tương quan hoá bởi mối tương quan của chúng với các giá trị khác. Con người không thể đề cao một giá trị nào đó để rồi hạ thấp những giá trị khác ngang bằng hay thậm chí còn quan trọng hơn.

 Joseph Maria Reuss là một nhà thần học luân lý người Đức và là một giám mục. Trong một bài viết trong Tubinger Theologische Quartalsehrift (tháng 12/1963), ngài đã nhấn mạnh đến mối tương quan cần thiết giữa tình yêu và việc sinh sản. Ngài bảo rằng, tình nghĩa vợ chồng và trách nhiệm làm cha mẹ tương quan hỗ tương với nhau; song, có nhiều khi vợ chồng phải đối diện với một vấn đề nan giải. Chẳng hạn như, vì những lý do chính đáng (sức khỏe, tài chính …, mà vợ chồng không thể có thêm con), nên họ nghĩ rằng thật sai lầm nếu hợp giao với nhau vào thời gian khi trứng đang rụng, và như thế khả năng thụ thai rất khả thi, thế nhưng tình yêu lại đòi phải hợp giao. Nếu phương pháp tiết dục định kỳ không

hiệu quả, thì con người có thể can thiệp vào trật tự sinh học vì lợi ích của toàn thể. Reuss cho rằng, vấn đề làm thế nào để can thiệp (thuốc, giải phẩu…) là vấn đề y khoa chứ không phải là vấn đề luân lý. Giống như Janssens, Reuss chủ trương rằng ngừa thai nhân tạo là sai, bởi vì nó ngăn cản hành vi tính dục phát xuất từ sự diễn tả chân thực của tình yêu. Ngài cũng đồng ý rằng, không nên dùng thuốc ngừa thai nếu phương pháp tiết dục định kỳ có hiệu quả.

13

Nhà thần học Hà Lan, W. Van der Marck, O.P, trong tạp chí Tijdschrift voor Theologie (No. 4, 1963), đã nói rằng, sự có chủ ý là đặc tính phân biệt cuối cùng để biết điều gì đã cấu thành việc triệt sản trực tiếp. Ngài đã so sánh vấn đề triệt sản trực tiếp với vấn đề cấy ghép các bộ phận. Theo truyền thống, các nhà luân lý đã chủ trương rằng con người được phép cắt bỏ một phần thân thể vì hai lý do: cứu chữa thân thể hay là một hình thức để trừng phạt.

Còn vấn đề cấy ghép các bộ phận thì sao? Một số nhà thần học cho rằng việc cấy ghép các bộ phận là sai bởi vì đó làsự cắt bỏ đi một phần thân thể mà không vì mục đích chữa bệnh cũng không vì mục đích trừng phạt. Phần đông, theo quan điểm ngày nay, cho phép việc cấy ghép các bộ phận. Nhất là trong trường hợp cắt một phần thân thể mình với chủ ý rõ rệt nhằm để giúp đỡ người khác. Van der Marck nghĩ rằng có lẽ, một yếu tố thứ ba

nên thêm vào hai phương pháp trên, tức là phương pháp triệt sản trực tiếp và phương pháp tiết dục định kỳ hay còn gọi là liệu pháp, một phương pháp thứ ba đó là sử dụng thuốc ngừa thai như Đức Piô XII đã đề cập đến. Theo Van der Marck, như được chỉ định, việc sử dụng thuốc ngừa thai đó có mục đích điều hoà sinh sản, chứ không phải là triệt sản trực tiếp cũng chẳng phải là để chữa bệnh. Sự thực cho thấy mục đích đã được định rõ ràng (điều hoà sinh sản) còn phương tiện thì lại không như thế (dùng thuốc ngừa thai); cái nguyên tắc mà không thể chấp nhận được đó là: mục đích biện minh cho phương tiện.

Hiện nay, những đề nghị như thế có lẽ không đủ lý chứng hiển nhiên để

người ta nghe theo và thực hiện. Như các nhà khoa học, các nhà thần học liên tục nghiên cứu điều này. Các cuộc thảo luận và các cuộc đối thoại thần học sẽ kiểm chứng tính hợp lý của các cuộc tranh luận nhằm bảo vệ hay chống lại việc sử dụng thuốc ngừa thai. Vì thế, các cuộc tranh luận này dần dần đã trở thành công khai và cuối cùng đã đưa đến vấn đề khái niệm triệt sản trực tiếp. Ngày nay, đa số các nhà thần học ít nhiều cũng đều công nhận rằng cần phải tu chỉnh lại định nghĩa về triệt sản trực tiếp mà Đức Piô XII đã đề ra (Tuy nhiên, có một điều lý thú là đa số các nhà thần học đang khi đưa ra những giải pháp mới đều công nhận rằng việc ngừa thai theo phương pháp nhân tạo là sai, vì việc ngừa thai ấy sẽ đánh mất ý nghĩa và sự diễn tả của việc trao ban trọn vẹn tình yêu. Nhưng dù có đúng như thế thì các nhà thần học này vẫn phải xem xét và đặt vấn đề nhiều hơn nữa về việc cấm ngừa thai).

Ngày nay, các nhà thần học nhìn nhận rằng: giả như trong trường hợp một

phụ nữ đang có nguy cơ bị cưỡng hiếp, thì cô ấy có thể dùng thuốc ngừa thai, vớimục đích là tránh thụ thai. Vì ngừa thai trong trường hợp của cô ấy không phải là ngừa thai tự nguyện, cho nên việc ngừa thai này không phải là sự đảo nghịch của tự nhiên. Một trường hợp khác liên quan đế việc dùng thuốc ngừa thai là người mẹ phải nuôi dưỡng đứa con của mình. Một số nhà khoa học tuyên bố rằng, trong khi người mẹ đang nuôi con của mình, thì trong cơ thể của họ một chức năng tự nhiên sẽ cung cấp nhằm bảo vệ việc thụ thai. Tuy nhiên, trong hoàn cảnh khó khăn và trong những căng thẳng của cuộc sống hôm nay, "tự nhiên" không thể luôn luôn thực hiện đúng chức năng của mình. Để điều chỉnh việc này và để bảo đảm cho sự vô sinh theo tự nhiên, người mẹ đang nuôi con có thể dùng thuốc. Một số nhà thần học bảo rằng người phụ nữ có thể dùng thuốc từ sáu đến chín tháng sau khi sinh con. Nhưng điều gì xảy ra cho một bà mẹ, khi bà ta gặp khó khăn hoặc bất khả trong việc nuôi con của mình? Một cách hợp lý, người mẹ ấy nên được phép dung thuốc.

Không có sự thất bại của tự nhiên theo nghĩa trực tiếp và cũng không có

chuyện trực tiếp gây nên sự vô sinh trong khi chính tự nhiên lại "muốn" phụ nữ vô sinh. Nhưng làm thế nào để biết khi nào tự nhiên "muốn" vô sinh? Phải chăng chỉ dựa vào sức khỏe và điều kiện của các cơ quan sinh dục mà thôi hay dựa vào việc thiếu một số yếu tố sinh học mà lẽ ra chúng phải có? Các cơ quan sinh dục không hiện hữu trong chân không. Chúng thuộc về những con người cá biệt, trong những hoàn cảnh đặc thù, vào những thời điểm đặc biệt. Nếu tự nhiên không muốn người phụ nữ mang thai, liệu ta có thể can thiệp với tự nhiên để gây nên sự vô sinh không? Hoặc, một cách đơn giản, vợ chồng phải kiêng cử quan hệ chăn gối? Đức

Piô XII đã xem xét những trường hợp trên, và ngài kết luận rằng nguyên tắc hiệu quả toàn phần không thể áp dụng cho họ được.

Vẫn còn đó một câu hỏi: Tại sao sự trao hiến toàn vẹn thân xác của hành vi vợ chồng lại là một chuẩn mực? Nói chung, các nhà thần học trả lời rằng, theo định nghĩa, hành vi hợp giao giữa vợ chồng là việc đưa tinh trùng vào âm đạo của phụ nữ. Vậy, đâu là chuẩn mực và ý nghĩa của việc duy trì chuẩn mực trên? Thật sự thì chuẩn mực của sự trao hiến trọn vẹn thân xác trong hành vi vợ chồng, được yêu cầu phải kiểm soát hành vi ấy nhằm bảo đảm rằng đó là một sự kết hợp tính dục, là sự diễn tả tình yêu, chứ không phải chỉ chủ yếu tìm kiếm sự thỏa mãn tính dục cách ích kỷ. Song, phải chăng là không có một chuẩn mực riêng tư và chất lượng nào để bảo đảm rằng tính dục là một sự diễn tả tình yêu? Các đôi vợ chồng Ki-tô giáo với một lương tâm ngay thẳng cũng không thể ý thức hết để có quyết định sáng suốt về ý nghĩa của việc kết hợp tính dục thân mật của họ? Đâu là những giá trị khác được bảo tồn bởi chuẩn mực của sự trao hiến toàn vẹn thân xác trong hành vi vợ chồng?

Vẫn còn nhiều luận cứ phức tạp hơn bên dưới những vấn đề tôi nêu ra,

chẳng hạn như khái niệm về luật tự nhiên, bản chất của tính dục con người, những mục tiêu của hôn nhân. Cũng như các chuyên gia y khoa tiếp tục nghiên cứu những hậu quả nguy hại có thể xảy ra của thuốc ngừa thai và tìm kiếm những cách thế để chuẩn đoán chính xác thời gian trứng rụng hoặc ngay cả việc gây nên trứng rụng trước thời kỳ, nên các nhà thần học cũng phải tiếp tục đặt vấn đề và tìm kiếm câu trả lời. Tuy nhiên, nếu không có tính khoa học thì không nên đặt vấn đề, vì đó là mị dân, đánh mất niềm hy vọng.

Có một điều chắc chắn là không có loại thuốc ngừa thai nào hay sự thay đổi nào trong giáo huấn của Giáo Hội có thể mở cổng thiên đàng. Con người sẽ luôn luôn gặp phiền toái, đau khổ, khó khăn và những vấn nạn. Chúng ta là lữ khách đang tiến về trời mới đất mới. Đức Ki-tô là niềm hy vọng của chúng ta. Sự đáp trả tự do của chúng ta đối với tình yêu của Thiên Chúa chính là sống Mầu NhiệmVượt Qua của Chúa Ki-tô, nghĩa là chết đối với bản thân và sống lại trong sự sống mới.

Trong chương này, tôi cố gắng trình bày thật rõ ràng, mạch lạc trong mức độ có thể về những lý luận hợp lý ẩn phía sau giáo huấn của Giáo Hội trong việc điều hoà sinh sản và đồng thời cho thấy những khả năng thay đổi trong giáo huấn của Giáo Hội. Chương năm trình bày một số những tranh luận của các nhà thần học nhằm biện minh cho nhu cầu thay đổi. Chương bảy xét đến khái niệm về luật tự nhiên và quyền giáo huấn của Giáo Hội để cho thấy rằng sự thay đổi trong giáo huấn của Giáo Hội về vấn đề điều hoà sinh sản sẽ hoàn toàn thích hợp với nhiệm vụ giảng dạy của Giáo Hội. Tôi hy vọng rằng, ba chương này sẽ biểu thị sự tiến triển trong huấn quyền chính thức của Giáo Hội.

Chuyển ngữ do Lm Trần Mạnh Hùng và nhóm dịch thuật Học Viện DCCT. VN.

Chủ Nhật, 13 tháng 3, 2022

GIỚI THIỆU TÁC PHẨM LƯƠNG TÂM CHO CÁC BẠN TRẺ.

 

GIỚI  THIỆU  TÁC  PHẨM  LƯƠNG  TÂM  CHO  CÁC  BẠN  TRẺ.

Các bạn trẻ thân mến,

Gần đây cha vừa cho ra mắt tác phẩm: LƯƠNG TÂM: Theo Quan Điểm Thần Học Luân Lý Công Giáo. Cuốn sách này đã được xuất bản và phát hành tại Việt Nam, nên hôm nay cha muốn chia sẻ với anh chị em chúng con một vài thông tin về cuốn sách và cha hy vọng là các bạn trẻ chúng con sẽ có cơ hội đọc qua cuốn sách này.

Đối với cha thì đây là một trong những tác phẩm mà cha đã có ý định soạn thảo và cho xuất bản tại Việt Nam trong thời gian vừa qua, nhưng đôi khi “lực bất tòng tâm”. Mình muốn là một chuyện, nhưng có thể thực hiện được hay không, nó lại là một vấn đề khác. Đôi khi hoàn cảnh hay điều kiện chưa cho phép, nên mọi dự tínhcủa chúng ta cũng phải đành tạm thời gát sang một bên. Nhưng rất may mắn cho cha là cuối cùng thì cha cũng đã hoàn tất được ước mơ của mình, đó chính là cho “ra đời” tác phẩm LƯƠNG TÂM: Theo Quan Điểm Thần Học Luân Lý Công Giáo.

LƯƠNG TÂM THEO CÁI NHÌN CỦA THẦN HỌC LUÂN LÝ CÔNG GIÁO

Đây là cuốn sách mang nhiều ý nghĩa và giá trị đối với cha, vì cha thực sự nhìn thấy tầm quan trọng của đề tài này trong lãnh vực Thần học Luân lý, bởi vì sau khi cha vừa mới thụ phong linh mục (1994) thì Nhà Dòng Chúa Cứu Thế tại Úc đã cho phép cha được tiếp tục theo đuổi ngành Thần Học Luân Lý tại Đại học Notre Dame tại Thành Phố Fremantle, tiểu bang Tây Úc cho học vị Thạc Sĩ của mình (Master Degreein Moral Theology), và cha rất may mắn được một vị giáo sư Thần Học Luân Lý,

Professor Peter Black, là linh mục Dòng Chúa Cứu Thế hướng dẫn cha cho luận văn thạc sĩ của mình, và trong quá trình học tập và nghiên cứu tại Đại học Notre Dame, ngài đã giúp cha am tường và khám phá ra vai trò quan trọng của lương tâm trong nền thần học luân lý Công Giáo, và nhất là sự tự do và tiếng nói của lương tâm cá nhân, nhằm hướng dẫn chúng ta trong việc chọn lựa và đi đến quyết định đúng đắn, phù hợp với tính luân lý và với tinh thần của Phúc Âm, cũng như giáo huấn chính thức của Giáo Hội. Tuy nhiên, điều nổi bật nhất mà cha đã khám phá ra trong thời gian theo học tại đây, rồi cả sau này khi cha đã tốt nghiệp học vị tiến sĩ tại Học Viện Thần Học Luân Lý Thánh Anphongsô (Tiếng Anh gọi là Alphonsian Academy), trực thuộc Đại học Giáo hoàng Lateranô, Thành phố Rôma vào năm 2003, rồi sau đó trong khoảng gần 10 năm, khi cha làm việc tại Trung Tâm Đạo Đức Sinh Học của

2

Tổng Giáo Phận Perth, The L.J. Goody Bioethics Centre, và sau nhiều năm đi dạy về bộ môn thần học luân lý tại một vài Học viện, và Đại chủng viện tại VN cũng như ở ngoại quốc, cha dần dà nhận ra một vấn đề khá lý thú và quan trọng trong đời sống luân lý của con người liên quan đến vai trò của lương tâm, nhất là khi chúng ta đứng trước các xung đột, một bên là giáo huấn luân lý của Giáo hội, một bên là tiếng nói của Lương Tâm, vậy chúng ta cần phải hành xử như thế nào? Cha thiết nghĩ đây là một trong những vấn đề không có đơn giản tí nào. Cho nên trong tác phẩm này, cha đã cố gắng dành ra nguyên một chương của cuốn sách để trình bày và giúp cho độc giả có thể am tường và nắm bắt được những nguyên tắc chủ đạo, theo truyền thống luân lý của Giáo Hội Công Giáo, trong việc đi đến quyết định khi chúng ta đứng trước các xung đội về mặt luân lý.

Song song với những gì mà cha đã nêu ra ở trên, thì một trong những nguyên

nhân chính thúc đẩy cha nghiên cứu và tìm hiểu về vai trò và bản chất của lương tâm, chính là quy trình và hoạt động của lương tâm nơi mỗi người, trong việc hình thành và đi đến quyết định luân lý, mà chỉ một mình ta trước mặt Thiên Chúa mới hoàn thành chịu trách nhiệm về các hành vi luân lý của mình. Đây chính là điểm nổi bật nhất mà Công Đồng chung Vaticanô II đã nói về Lương Tâm, nhất là trong số 16 của Hiến chế mục vụ về Giáo Hội trong thế giới ngày nay (Gaudium et Spes), khi đề cậpđến Phẩm giá của Lương Tâm luân lý. Đây chính là một trong những tài liệu quan trọng nhất của Công Đồng Vaticanô II, khi đưa ra định nghiã và vai trò của lương tâm trong các phán quyết về luân lý. Cha xin được trính dẫn:

Công Đồng Vaticanô II định nghĩa lương tâm như “tâm điểm sâu xa nhất và là cung thánh của con người, nơi mà con người một mình đối diện với Thiên

Chúa. Nơi lương tâm, con người tìm ra lề luật, được viết ra nơi trái tim họ,

hằng mời gọi họ đến với tình yêu, khuyến khích họ làm lành và xa tránh điều

dữ. Tất cả hành vi của ta phải phát xuất từ tình yêu và phải để tình yêu thúc

bách. Dựa trên lề luật tình yêu này, lương tâm khuyến khích từng người trong

những cảnh huống cụ thể, điều gì phải làm và điều gì cần phải tránh. Tuân

phục luật tình yêu này là phần việc của phẩm giá con người, bởi vì nó phù hợp với bản tính và ơn gọi của chúng ta.” Thêm vào đó, “lương tâm hướng dẫn năng động trong việc giải quyết những vấn đề luân lý.” (Xem Gaudium et Spes, số 16).

Đồng thời Tuyên ngôn về Tự do Tôn giáo (Dignitatis Humanae, số 3) của Công đồng Vaticanô II cũng đã tuyên bố như sau, khi bàn về quyền và nghĩa vụ phải tuân theo lương tâm cá nhân:

3

“Chính là qua lương tâm mà con người nhìn thấy và nhận thức những mệnh

lệnh của Thiên luật. Con người bắt buộc phải trung thành tuân theo lương tâm

này trong tất cả mọi hoạt động của mình, để có thể đạt được Thiên Chúa là

cùng đích đời mình. Vì thế, không ai được ép buộc người nào hành động trái

với lương tâm họ, cũng như không một ai bị ngăn cấm hành động theo lương

tâm họ, nhất là trong lãnh vực tôn giáo.” (Dignitatis Humanae, số 3).

Ý NGHĨA VÀ BẢN CHẤT CỦA LƯƠNG TÂM THEO CÁI NHÌN CỦA THẦN - HỌC LUÂN LÝ CÔNG GIÁO

Theo như sự nhận biết của chúng ta, thì từ xưa đến nay, từ “lương tâm” luôn đượcthường xuyên sử dụng trong dân gian cũng như trên các báo chí, sách giáo khoa, đặc biệt là các sách về bộ môn thần học luân lý. Mặc dầu luôn được sử dụng đến, nhưng từ lương tâm lại mang nhiều ý nghĩa khác nhau qua nhiều thế kỷ. Nói tóm lại, từ “lương tâm” có một lịch sử phức tạp và thường được dùng với nhiều nghĩa khác nhau, đến nỗi thật khó để có thể xác định nó bằng một định nghĩa đơn giản. Tuy nhiên, từ “lương tâm” này lại chính là trọng tâm của các buổi hội thảo về luân lý. Sự kiện mà tôi vừa mô tả ở trên, đó chính là điều mà hầu như ai nấy trong chúng ta cũng đã ít nhiều trải nghiệm.

Quả thật, không có nền văn hoá nào mà nơi đó, người ta lại chưa tìm thấy lương tâm không được nhận thức như là một sự thật. Người xưa đã dùng từ “tấm lòng” và “lòng dạ” để mô tả bản chất sâu thẳm nhất của con người liên quan tới trách nhiệm và đạo lý. Trải qua nhiều thế kỷ, luôn có những người không chịu tùng phục bất cứ luật lệ nào. Họ khước từ việc chấp nhận hay tuân thủ lề luật, vì họ ứng đáp với một luật cao hơn - luật lương tâm. Socrates, Jeanne d’Arc, Thomas More, Martin Luther King, Alexander Solzhenitsyn chính là những khuôn mặt ngôn sứ đã cụ thể hoá lương tâm bằng một lối diễn tả hết sức cảm động.

Chúng ta biết mỗi người đều có lương tâm, nhưng các kinh nghiệm của chúng

ta về lương tâm thì lại mơ hồ. Đôi lúc chúng ta phải chiến đấu với lương tâm của chính mình, khi đương đầu với những quyết định hệ trọng trong cuộc sống, tỷ dụ như, chọn nghề nghiệp, chọn sự dấn thân, chọn hướng đi cho tương lai, chọn có nên nộp thuế hay không? Song ta lại cảm thấy sự bất ổn trong lương tâm, dù chỉ là những sự việc không mấy quan trọng, chẳng hạn như có nên đi xem chiếu phim hay tham dự một buổi trình diễn âm nhạc tối nay, hoặc cần phải ở nhà để làm bài tập cho xong.

Chúng ta cũng biết: là không có điều gì hoặc bất cứ thẩm quyền nào có thể xúc phạm đến sự tự do của lương tâm, tuy nhiên cùng lúc, chúng ta lại được trao ban cho những lề luật luân lý buộc phải tuân giữ, cho nên điều ấy làm chúng ta băn khoan và tự hỏi:

4

liệu vai trò của lương tâm có ý nghĩa gì không? Và tiếng nói của lương tâm có được tôn trọng hay không? Cái gì gọi là lương tâm? Và đâu là lương tâm chân thật?

Ngày nay, dựa vào Kinh Thánh, thần học luân lý rút ra được những thông tin

giá trị từ những truyền thống triết học nguyên thủy và cận đại, từ những định nghĩa

cổ điển (đặc biệt của Thánh Tôma Aquinô), từ Công Đồng Vaticanô II và từ các khoa

học hiện đại, nhất là khoa tâm lý chiều sâu. Cho nên, cha mạn phép được trình bày và

chia sẻ với các bạn trẻ một cách vắn gọn về ý nghĩa và bản chất của lương tâm. Vai

trò của lương tâm trong các phán quyết luân lý, và đặc biệt hơn cả là sự tự do và

quyền tối thượng của lương tâm như đã được Công Đồng Vaticanô II khẳng định

trong Hiến chế mục vụ về Giáo Hội trong thế giới ngày nay (Gaudium et Spes), số 16

mà tôi đã trích dẫn trong phần trả lời câu hỏi đầu tiên.

Trong các sách Tin Mừng, thuật ngữ lương tâm chỉ xuất hiện lần đầu tiên trong

các thư của Thánh Phaolô, và từ này lại xuất hiện tới 25 lần. Thánh Phaolô khai triển

cả một lý thuyết về lương tâm. Đối với Thánh Phaolô, lương tâm là ý thức nền tảng

về sự khác biệt giữa cái tốt và cái xấu về mặt luân lý. “Luật được viết ra trong lòng

chúng ta.” (Rm 2, 15). “Lương tâm là một nguyên lý tự do” (1Cr 10, 29). Chúng ta

phải ca ngợi lương tâm của mỗi người trước mặt Thiên Chúa (2Cr 4, 2). Lương tâm

có thể yếu đuối và cũng có thể sai lầm nữa (1Cr 8, 10-12). Cho nên, người ta có thể

nói rằng: chính Thánh Phaolô đã đưa thuật ngữ lương tâm vào Tân Ước. Ngài sử

dụng nhiều lần trong các thư của ngài và trong sách Công vụ Tông đồ, và ngài cũng

sử dụng thuật ngữ này trong một số những ngữ cảnh khác nhau, hầu làm sáng tỏ

những ý nghĩa khác nhau của thuật ngữ này, như tôi sẽ cố gắng trình bày cho quý vị

thấy.

Thông thường thì lương tâm có đặc trưng là một “chứng nhân” (Rm 2, 15; 9, 1;

2Cr 1, 12); không thể mua chuộc được hằng theo dõi các hành vi của chúng ta, hằng

ở trong chúng ta, và cũng có thể được mời chứng nhận sự thực của các điều chúng ta

khẳng định. Lương tâm phán xét nhận thức nội tâm, thẩm định nó một cách vô tư và

không thiên lệch. Lương tâm là khả năng thiên phú phổ quát của tất cả mọi người.

Trong thư gởi tín hữu Rôma, chương 2, câu 15 (Rm 2, 15), Thánh Phaolô biểu lộ

niềm xác tín rằng: “Dân Ngoại không có luật Môsê, mỗi khi họ theo lẽ tự nhiên mà

làm những gì luật đòi hỏi, thì họ là luật cho chính mình, mặc dù họ không có luật. Họ

cho thấy là điều gì luật đòi hỏi thì đều đã được ghi khắc trong lòng dạ họ.” Lương

tâm họ cũng chứng thực điều đó, vì họ tự phán đoán trong lòng, khi thì cho mình là

trái, khi thì cho mình là phải.” (Rm 2, 14-16). Bản văn trên được trưng dẫn thường

xuyên để cho thấy có luật luân lý tự nhiên mà bất cứ ai cũng phải tuân giữ.

Như thế, trong tất cả những trích dẫn này, ta thấy sự đa dạng lạ lùng về ý nghĩa

của thuật ngữ lương tâm. Tất cả những định nghĩa này tìm được hậu thuẫn trong các

5

thư của Thánh Phaolô. Và tất cả đều âm vang ở mức độ nào đó với trải nghiệm của

chúng ta. Đối với các tác giả Tân Ước, lương tâm hàm ý một ý thức về nội dung luân

lý đích thực của nhân sinh như được nhìn thấy bởi đức tin, quan điểm cơ bản về đời

sống chi phối mọi hành vi của con người.

Ta có thể tóm lược ý nghĩa về lương tâm trong Tân Ước như sau:

 Là cốt lõi của nhân vị con người, một thực thể nội giới, sự cắt bì đích

thật phải xuất phát từ tâm hồn. (Rm 2, 28-29)

 Là thực thể chung nhất, phổ biến, ai cũng có, luật lệ được ghi khắc trong

lòng họ, lương tâm chính là người làm chứng cho hành vi từng cá nhân.

(Rm 2, 14-15)

 Lương tâm là nơi con người tương giao với Thiên Chúa và với người

khác (1Ga 3, 19-21).

 Toàn bộ những điều này, theo cái nhìn của tôi, có thể được xem như là

các nét đặc biệt khi chúng ta thảo luận về khái niệm, vai trò và bản chất

đích thực của lương tâm.

SỰ XUNG ĐỘT GIỮA HUẤN QUYỀN VÀ SỰ TỰ DO CỦA LƯƠNG TÂM.

Có thể nói, đây chính là mối bận tâm lớn của cha trong khi giảng dạy về bộ môn thần

học luân lý. Cha hy vọng với phần trình bày vắn gọn của mình tại đây sẽ giúp cho các

bạn trẻ hiểu một cách sâu sắc về các sự đụng độ có thể xảy ra giữa lương tâm của mỗi

cá nhân trước các huấn lệnh của giáo quyền, hay nói một cách nôm na là các giáo

huấn của Giáo hội Công giáo. Cho nên ở phần này, cha sẽ cố gắng giải thích và mạn

phép đưa ra một vài đề nghị hầu giúp giải quyết các xung đột này, nhất là khi xảy ra

các trường hợp mà giáo huấn của Hội Thánh đi nghịch lại với các phán quyết của

lương tâm cá nhân, hoặc trong trường hợp lương tâm bất đồng với các giáo huấn

chính thức của Giáo hội.

Trước khi đi sâu vào vấn đề, cha muốn dùng câu chuyện sau đây để minh hoạ

sự căng thẳng giữa lương tâm và huấn quyền của Giáo hội.

Người ta kể lại một câu chuyện như sau: “Trong một cơn bão khủng khiếp vào

lúc vị Thuyền trưởng bị cho là không thể điều khiển được con tàu với đầy đủ trách

nhiệm nữa. Vị sỹ quan chỉ huy tiến tới để giải nhiệm Thuyền trưởng, nhưng vị

Thuyền trưởng đã xua ông này đi và ra lệnh cho người lái tàu: “quay qua bên trái 180

độ”. Nhưng vị chỉ huy đã la lên và nói với người lái tàu: “sẽ không an toàn nếu anh

làm như thế!”

6

Người tài công nghe thấy hai mệnh lệnh trong cùng một lúc: “lái tàu sang trái

180 độ và đi thẳng về phía trước”. Quá đỗi bối rối, anh ta la lên: “tôi phải làm cái quỷ

gì đây?” Người lái tàu đã được đào tạo để tuân theo mệnh lệnh của thượng cấp mà

anh ta tôn trọng, thế nhưng anh ta hiện đang nhận được hai mệnh lệnh từ hai thượng

cấp đều đáng tôn trọng. Vậy anh ta phải nghe ai đây? Anh ta phải coi trọng bên nào

bây giờ?

Giáo hội cũng ở trong một tình cảnh tương tự như thế khi Thông điệp

Humanae Vitae (Sự sống con người) được công bố năm 1968. Thông điệp này đòi

hỏi “sự thẩm định” trên toàn thế giới. Nhiều Hội đồng Giám mục ở các quốc gia đã

đưa ra các tuyên bố và những quan điểm khác nhau về cách thức các tín hữu cần phải

đọc và thi hành những yêu cầu luân lý trong thông điệp này, liên quan đến việc sử

dụng các phương pháp ngừa thai nhân tạo. Chúng ta phải tuân theo hướng dẫn của

bên nào đây?

Lương tâm, như chúng ta đã thấy, là sự cam kết của toàn bộ con người với

những giá trị và phán quyết khi xem xét về điều “tôi phải làm” dưới ánh sáng của

việc cam kết áp dụng những giá trị này. Lương tâm thường được truyền thống coi là

quy chuẩn chủ quan tối thượng trong lĩnh vực luân lý, tương phản với quy chuẩn

khách quan của mệnh lệnh đạo đức mà lý trí nắm bắt được theo bản chất và mặc khải.

Người ta luôn luôn buộc phải tuân theo phán quyết của một lương tâm có nhận thức

đúng đắn. Việc nhận thức này được tiến hành trong cộng đồng nhờ vào nhiều nguồn

khôn ngoan đạo đức khác nhau. Trong Hội Thánh, huấn quyền là một nguồn thẩm

quyền luân lý. Giáo huấn của Hội Thánh rất quan trọng, dù không phải là nhân tố độc

nhất, trong sự hình thành lương tâm và trong phán quyết luân lý của con người.

Cho nên ở đây, cha muốn đưa ra sự nhận xét của mình liên quan đến lãnh vực

lương tâm và huấn quyền của Giáo Hội, đặc biệt trong các vấn đề liên quan đến lãnh

vực luân lý. Vấn đề trọng tâm được đặt ra “đâu là đặc tính quy chuẩn trong giáo huấn

chính thức của Giáo hội trong việc đạt tới phán quyết của lương tâm?”

Trong mỗi lãnh vực của đời sống, chúng ta thường cậy dựa vào kinh nghiệm và

lời khuyên bảo của những người thông thạo và có trình độ cũng như sự hiểu biết hơn

chúng ta. Chúng ta đón nhận ảnh hưởng của họ như một thẩm quyền. Điều này có

nghĩa chúng ta coi họ là đúng đắn và chúng ta tuân theo sự hướng dẫn của họ, dẫu

cho chúng ta đôi khi không hiểu được trọn vẹn lý lẽ của họ. Cậy nhờ đến thẩm quyền

là một phần của cuộc sống có trách nhiệm. Điều đó không có nghĩa là chúng ta trở

nên thụ động và đuối lý, nhưng chúng ta tin vào thẩm quyền khi nhận ra rằng: kiến

thức và kinh nghiệm của mình còn quá giới hạn, để giải quyết ổn thỏa một vấn đề nào

đó.

7

Nếu chúng ta đã có chút kiến thức về vấn đề của mình rồi, chúng ta hy vọng

thẩm quyền này sẽ khẳng định những gì chúng ta đã biết và thách đố chúng ta với

những gì chúng ta chưa biết. Khi nại đến một thẩm quyền nào, chúng ta tin rằng thẩm

quyền ấy sẽ đúng đắn hơn về vấn đề này hơn chúng ta, hoặc hơn bất kỳ ai khác mà

chúng ta có thể cậy dựa.

Như thế, mối liên hệ giữa lương tâm và thẩm quyền là không thể tách biệt.

Trong hầu hết các trường hợp, chúng không đối kháng vì chúng đều hướng đến sự

thật. Thế nhưng, trong vài trường hợp, sự căng thẳng giữa chúng có vẻ gia tăng, mỗi

khi thẩm quyền khẳng định vị thế của mình bằng việc ra lệnh. Chẳng hạn, trong mối

quan hệ giữa con cái với cha mẹ, hay tương quan giữa người lính với sĩ quan cấp

trên, giữa cư dân một thành phố với chính quyền, hoặc giữa các tín hữu với thẩm

quyền giảng dạy của Giáo hội.

Ngay từ những năm đầu của thế kỷ XIX, hạn từ “Magisterium” (nghĩa là Huấn

Quyền) đã được sử dụng cách chuyên biệt để chỉ tính phẩm trật của Hội Thánh và

việc thực hành quyền giảng dạy chính thức trong Hội Thánh. Chỉ những giáo huấn

của Huấn Quyền mới là giáo huấn chính thức. Điều này mang ý nghĩa quan trọng vì

chúng được các Giám mục đưa ra, bởi vì các ngài có thẩm quyền giảng dạy, với tư

cách là những người thừa kế quyền giảng dạy của các tông đồ nhân danh Chúa Kitô.

Quyền giảng dạy chính thức của Hội Thánh chính là điều ta cần nại đến để có câu trả lời chính thức cho nhiều vấn đề. Chẳng hạn như vấn đề đồng tính luyến ái, việc thụ tinh trong ống nghiệm (IVF), việc nghiên cứu tế bào gốc, v.v…

Trong thời buổi hiện nay, Giáo quyền rất ít khi sử dụng huấn quyền đặc biệt -

ơn bất khả ngộ - để giảng dạy, chỉ có hai trường hợp ơn bất khả ngộ được nại đến trong vòng 150 năm qua, do Đức Thánh Cha tuyên tín, đó là: tín điều Đức Mẹ vô nhiễm nguyên tội (năm 1854), và Đức Mẹ hồn xác lên trời (1950).

Thêm vào đó, chúng ta cần lưu ý rằng, trong những năm gần đây hoặc xa hơn

một chút, chưa hề có một Đức Thánh Cha hay một Công đồng chung nào tuyên tín trong tính bất khả ngộ về các vấn đề luân lý; trong thực tế, các thần học gia Công Giáo Rôma thống nhất rằng: trong việc thực hành quyền giảng dạy phổ quát, Giáo hội chưa bao giờ giảng dạy cách bất khả ngộ trong lĩnh vực luân lý riêng biệt nào.

Thực tế cho thấy cách rõ ràng, các giáo huấn chính thức của Giáo hội trong các vấn đề luân lý cụ thể không mang tính bất khả ngộ (nghiã là chúng có thể bị sai lầm). Chúng chính đáng được coi như những giáo huấn có thẩm quyền, nhưng có thể sai lầm. Như thế, các giáo huấn luân lý này không đòi buộc các tín hữu phải đón nhận với thái độ vâng phục của đức tin. Để đón nhận các giáo huấn này, điều được đòi hỏi

8

nơi các tín hữu là lòng kính cẩn tuân phục của các tín hữu. Như Hiến chế tín lý về Giáo hội (Lumen Gentium) số 25 đã nhấn mạnh:

“Trong các vấn đề thuộc đức tin và luân lý, các Giám mục giảng dạy nhân

danh Chúa Kitô. Do đó, các tín hữu có bổn phận phải đón nhận chúng với thái độ kính cẩn tuân phục. Mọi người phải lấy ý chí và lý trí mà kính cẩn tuân

phục một cách đặc biệt những giáo huấn chính thức của Giám mục Rôma, dù

khi ngài không tuyên bố từ tông tòa (ex cathedra).”

Do đó, khi đối diện với các giáo huấn khả ngộ có thẩm quyền của Giáo hội,

tình huống của các tín hữu có thể được diễn tả như sau: các tín hữu được mời gọi từ thâm tâm để chấp nhận và vâng phục giáo huấn chính thức của Giáo hội với tinh thần có trách nhiệm, nhưng đồng thời, chúng ta vẫn được phép không tán thành và không vâng phục các giáo huấn đó, cũng được dựa trên tinh thần có trách nhiệm. Rõ ràng, những điều kiện cho sự bất đồng thuận như thế cần phải được trình bày một cách rõ ràng và cẩn trọng.

Khẳng định việc bất đồng quan điểm với giáo huấn của Giáo hội trong tinh

thần trách nhiệm là hợp pháp, nghĩa là công nhận thẩm quyền giảng dạy của Giáo hội cũng có giới hạn. 

John L. McKenzie đã ghi nhận một số giới hạn rõ rệt đã từng xảy ra: “Chức vụ giảng dạy được trao ban không phải để thống trị hay kiểm soát sự hiểu biết của thế giới về phương diện tri thức hay luân lý. Chức vụ giảng dạy

được ủy thác không phải để sai khiến người khác phải làm gì, nhưng hướng

dẫn họ đưa ra quyết định đúng đắn. Giáo hội thực hiện cách hoàn hảo những gì được Chúa Kitô trao phó. Ngài không trao quyền cho Giáo hội để trở nên thầy dạy cho tất cả mọi người hay trở thành lương tâm của mọi người. Nhiều khi cứ mãi nỗ lực thực thi những điều bất khả mà các thừa tác viên của Giáo hội lại bỏ quên đi những điều khả dĩ làm được.”

Tất cả mọi thành phần trong Giáo hội, kể cả Giáo quyền, đều được Lời Chúa

soi sáng hướng dẫn (Xem Hiến Chế Tín Lý về Mạc Khải của Thiên Chúa - Dei Verbum, số 10), và chỉ khi nào Giáo hội trung thành rao giảng sứ điệp của Chúa Kitô, thì khi đó Giáo hội cũng thực sự phục vụ dân Chúa. Giáo quyền được mời gọi để thông truyền chân lý của Thiên Chúa, và trong khi thi hành sứ mệnh ấy, Giáo hội được Chúa Thánh thần trợ giúp. Nhưng giáo quyền không được Thiên Chúa trao quyền để tạo ra chân lý hoặc tìm kiếm một điều chắc chắn khi việc ấy không khả dĩ.

Do vậy, Công đồng Vatican II trong hiến chế mục vụ về Giáo hội trong thế giới hôm nay lưu ý:

9

“Mặc dầu Giáo hội là quản thủ kho tàng Lời Chúa để từ đó rút ra những

nguyên tắc luân lý và tôn giáo, nhưng không phải lúc nào Giáo hội cũng có

ngay câu trả lời cho mọi vấn đề cụ thể.” (X. Gaudium et Spes, số 33).

Văn kiện tiếp tục nhắc nhở giáo dân rằng:

“Với một lương tâm đã được đào luyện cách thích hợp, họ phải đem luật Chúa thấm nhập vào cuộc sống xã hội trần gian.” Hơn nữa, người giáo dân được khuyên nhủ là cũng đừng vì thế mà nghĩ rằng các chủ chăn có đủ thẩm quyền chuyên môn để có thể đưa ra ngay một giải pháp cụ thể cho từng vấn đề đang diễn ra, kể cả những vấn đề quan trọng; cũng đừng lầm tưởng đó là sứ mệnh chỉ dành cho các chủ chăn.” (X. Gaudium et Spes, số 43).

Sau cùng, hiến chế mục vụ về Giáo hội trong thế giới hôm nay đã khẳng định

rằng: “mọi tín hữu, giáo sĩ và giáo dân, cần có sự tự do chính đáng để nghiên cứu, suy tư cũng như để mạnh dạn và khiêm tốn trình bày quan điểm trong các lĩnh vực chuyên môn của họ.” (X. Gaudium et Spes, số 62).

Như vậy rõ ràng là lối vâng phục triệt để mà không đặt vấn đề, thiếu óc phê

phán là cách diễn tả không thể chấp nhận được cho việc kính cản tuân phục mà Công đồng Vaticanô II yêu cầu các nơi tín hữu, khi đối diện với các giáo huấn khả ngộ (nghĩa là chưa chắc không thể không sai lầm) của huấn quyền. Sự kiện này, cùng với việc nhận thức rằng quyền giảng dạy luân lý của Giáo hội luôn được coi như chân lý, nhưng vẫn có thể bị đảo ngược bởi các lý chứng đối nghịch, giải thích tại sao, “nếu có đầy đủ lý lẽ và bằng chứng vững chắc, một người Công Giáo có thể chọn một lập trường bất đồng với một vài khía cạnh luân lý trong các giáo huấn của Giáo hội.”

Công đồng Vatican II đã khẳng định tính ưu việt của lương tâm (the primacy

of conscience) trong mối liên hệ đúng đắn giữa lương tâm và huấn quyền giảng dạytrong các vấn đề luân lý.

Ở đây ta cũng cần nói thêm về quan điểm cho rằng giáo huấn chính thức của

Giáo hội về các vấn đề luân lý là chuẩn mực đối với lương tâm Công Giáo, không cónghĩa điều đó sẽ trở thành cơ sở độc quyền cho các phán quyết luân lý, mà đúng hơn, việc ấy có nghĩa là người Công Giáo nên dành sự ưu tiên trước hết cho các điều huấn quyền đã dạy hơn là các ý kiến khác. Điều đó cũng có nghĩa là người Công Giáo phảixem các giáo huấn của Giáo hội như một yếu tố quan trọng, góp phần trong việc đưa ra các quyết định, mặc dù nó có thể không phải là yếu tố quyết định tiên quyết, khi mọi sự đều được xem xét. Hơn nữa, người Công Giáo cần phải chân thành nỗ lực để vượt qua bất kỳ ý kiến trái ngược nào, hầu có thể đạt được sự đồng thuận đối với các giáo huấn chính thức. Tuy nhiên, trong thực tế khi áp dụng giáo huấn của Giáo hội

10

cho một tình huống xung đột, các yếu tố khác cũng phải được xem xét, ví dụ như hoàn cảnh, điều kiện hay ý hướng cùng với sự nhận thức chủ quan của tác nhân, sao cho phù hợp với các giá trị cơ bản do giáo huấn đề ra, vừa để đo lường hành vi cụ thể đã được quy định bởi các huấn lệnh của Giáo hội.

Có lẽ một ví dụ cụ thể sẽ làm sáng tỏ điểm này. Một cặp vợ chồng Công Giáo

chấp thuận thẩm quyền giáo huấn của Giáo hội về đời sống hôn nhân và gia đình và muốn sống phù hợp với quy tắc đó, tuy biết rằng hiện tại, điều tốt nhất mà họ có thể làm để bảo vệ và gìn giữ hạnh phúc mái ấm gia đình là họ cần sử dụng các phương pháp ngừa thai nhân tạo. Họ chưa thể sống với những gì mà giáo huấn chính thức của Giáo hội giảng dạy về hôn nhân, dựa trên các giới hạn về khả năng luân lý cũng như các yếu tố giới hạn trong hoàn cảnh đời sống hôn nhân gia đình hiện nay. Sự chọn lựa sử dụng phương pháp tránh tránh thai nhân tạo là một phán quyết khôn ngoan của họ.

Điều đó ta không nên lẫn lộn hoặc xem như đồng nghĩa với việc bất đồng quan điểm với giáo huấn của Giáo hội.

Tất cả những điểm mà cha vừa mới trình bày ở trên, có thể được xem như là

một trong những nguyên nhân và là động lực chính, lý do tại sao cha muốn cho ra mắt cuốn sách về lương tâm, vì cha thiết nghĩ nó sẽ thực sự trở nên hữu ích cho những ai muốn tìm hiểu về vai trò, sự tự do và tiếng nói của lương tâm liên quan đến các hành vị luân lý.

Cha ước mong và chân thành cầu chúc cho các bạn trẻ Công giáo tại Việt Namvà quý độc giả tại Việt Nam sẽ khám phá ra những điều thú vị và hữu ích cho đờisống luân lý của chính mình, qua những gì mà cha trình bày trong cuốn sách:

LƯƠNG TÂM – Theo Quan Điểm Thần Học Luân Lý Công Giáo.

 Sau cùng, cha hy vọng sự ra mắt của tác phẩm này sẽ giúp cho quý vị có dịp

đào sâu kiến thức về một chủ đề quan trọng trong nền thần học luân lý, đó chính là

LƯƠNG TÂM.

Các bạn trẻ và quý độc giả có thể xem Video Phỏng vấn Linh mục Tiến Sĩ Phêrô Trần Mạnh Hùng: Lương tâm theo quan điểm Thần Học Luân Lý Công Giáo 11 Xem tại YouTube: https://www.youtube.com/watch?v=q4u33os3grU Hiện nay cuốn sách này đang có bán tại nhà sách Đức Bà Hoà Bình. Xin vui lòng nhấn vào link dưới đây để biết thêm chi tiết: https://ducbahoabinhbooks-osp.com/sach/than-hoc/luan-ly/luong-tam-theo-quandiem-cua-than-hoc-luan-ly-cong-giao/ Linh mục Phêrô Trần Mạnh Hùng, STD.