Hiển thị các bài đăng có nhãn Trần Mỹ Duyệt. Hiển thị tất cả bài đăng
Hiển thị các bài đăng có nhãn Trần Mỹ Duyệt. Hiển thị tất cả bài đăng

Thứ Sáu, 24 tháng 5, 2024

TÂM LÝ CẦU TOÀN VÀ SỰ GIÁO DỤC SAI LẦM CỦA PHỤ HUYNH

 

Tue, 21/05/2024 - Trần Mỹ Duyệt

TÂM LÝ CẦU TOÀN VÀ SỰ GIÁO DỤC SAI LẦM CỦA PHỤ HUYNH

 

-Sầu Đông hôm qua đem sổ điểm về em la cho nó một mẻ.

-Nó phạm lỗi gì mà em la nó?

-Nó bị một con B.

- Em không biết là thang điểm, B đứng hạng nhì không? A,B,C. Làm gì phải la nó, vả lại chỉ có một con B thôi mà.

- Em muốn nó được A tất cả. Em muốn nó phải vào được trường giỏi, ra trường thủ khoa và có tương lai. Em một mình nuôi nó ăn học, em có quyền hy vọng điều đó.

Câu chuyện giữa tôi và cô em trên chắc cũng là giấc mơ của nhiều phụ huynh. Họ cho rằng mình “có quyền” đòi hỏi con họ phải học giỏi, phải đứng nhất lớp, phải tốt nghiệp thủ khoa, và phải dành được những học bổng danh dự cấp quốc gia. Sau khi ra trường phải có việc làm tốt, phải kiếm được nhiều tiền…

Phải, phải, phải…Thật ra, những ước mơ như vậy không có gì sai, trái, nhưng chỉ đáng tiếc là nếu không biết cách nuôi dưỡng, nó sẽ trở thành những ác mộng cho cả con cái lẫn cha mẹ. Bác sỹ Tâm Thần Jingduan Yang, một bác sỹ nổi tiếng với những kinh nghiệm và nghiên cứu tại các Đại Học trên thế giới như the Fourth Military Medical University, China; Oxford University, UK; Thomas Jefferson University và Arizona University tại Hoa Kỳ... Trong bài phân tích “Những người thành đạt có nguy cơ tự tử cao hơn” [1], ông đã đưa ra những dẫn chứng cụ thể như trường hợp của Alexandra Robbins tốt nghiệp xuất sắc – danh hiệu cao nhất – từ Đại học Yale, nhưng ngày ra trường cô đã nhận ra thực tế phũ phàng là những gì mà cô đạt được chẳng có ý nghĩa gì, vì việc theo đuổi thành công không dẫn đến hạnh phúc. Tóm lại, theo ông trong hành trình tìm kiếm thành công theo chủ nghĩa hoàn hảo, những người thành đạt quá mức có thể dẫn đến hiện tượng trầm cảm và ý nghĩ tự tử.

THÀNH TÍCH VÀ CĂNG THẲNG

Theo Bác sỹ Yang, các yếu tố về môi trường đóng vai trò quan trọng gây ra trầm cảm. Hiện tượng này xuất hiện phổ biến ở các trường đại học, đặc biệt là đối với những sinh viên có thành tích quá cao. Áp lực phải đạt điểm tối đa, được vào trường nổi tiếng… có thể tạo ra gánh nặng tâm lý đối với những sinh viên luôn hướng đến thành tích tuyệt đối.

Viện Y Tế Quốc Gia, ước tính có 1.100 sinh viên đại học tự tử mỗi năm và gần 24.000 người cố gắng tự tử. Phân tích dữ liệu cho thấy khi sự cạnh tranh, học phí và áp lực để vào được những trường tốt nhất tăng, tỷ lệ tự tử ở thanh niên tuổi từ 15-24 đã tăng gấp ba lần kể từ những năm 1950. Sau đây là những con số tiêu biểu dựa theo tài liệu khảo cứu của Bác sỹ Yang:

Theo Philly Voice:

-         Tại University of Pennsylvania năm 2017, sáu sinh viên đã qua đời vì tự tử trong khoảng thời gian 13 tháng.

-         Cornell University có sáu vụ tự tử trong năm học 2009-2010.

-         Năm 2003-2004, năm sinh viên Đại học New York đã nhảy lầu tự tử.

-         Năm 2018, một sinh viên y khoa năm thứ tư và một bác sĩ nội trú tại NYU đã tự sát cách nhau 5 ngày.

Cũng theo Viện Y Tế Quốc Gia, mặc dù tự tử có nhiều khả năng cướp đi sinh mạng của những người trẻ tuổi, nhưng trong toàn bộ dân số Hoa Kỳ, tỷ lệ trầm cảm và tự tử đã tăng 28% trong khoảng thời gian 17 năm từ 1999 đến 2016. Những người thành đạt quá mức chiếm tỷ lệ cao hơn. Tài liệu của Business Insider từ Viện An Toàn và Sức Khỏe Lao Động

Quốc Gia cho biết, kỹ sư hàng hải, bác sĩ, nha sĩ, bác sĩ thú y và nhân viên tài chính có nhiều khả năng tự tử tại nơi làm việc nhất.

Tại Việt Nam trong số những người tự tử vì trầm cảm, nhóm tuổi gây tử vong hàng đầu nằm trong khoảng 15 - 29 tuổi. Theo báo Tiền Phong, nguyên nhân học sinh tự tử là do áp lực học tập. Cũng theo tài liệu báo này trích dẫn dựa trên nghiên cứu của Quỹ Nhi Đồng Liên Hợp Quốc (UNICEF), khoảng 8-29% trẻ em trong tuổi vị thành niên ở Việt Nam nói chung, ước tính ít nhất 3 triệu thanh thiếu niên mắc các bệnh liên quan về sức khỏe tâm thần. Tuy nhiên, chỉ có khoảng 20% trong số này nhận được hỗ trợ y tế và điều trị cần thiết. [2]

Thống kê năm 2019, số người tự tử tại Việt Nam khoảng 7,5 trong số 100.000. Mặc dù con số này có phần giảm trong những năm gần đây, nhưng vẫn cao hơn so với trước năm 2000.[3]

TRIỆU CHỨNG TRẦM CẢM

Trầm cảm dễ nhận ra vì nó là một cảm xúc rất mạnh. Trong một số trường hợp, trầm cảm sẽ biểu hiện ra bằng một hoặc nhiều triệu chứng sau đây:

Tâm lý:

- Tâm trạng buồn bã, lo lắng hoặc “trống rỗng”.

- Bồn chồn, khó chịu.

- Cảm giác tuyệt vọng, bi quan, vô giá trị, bất lực.

- Cảm giác tội lỗi.

- Mất hứng thú với các hoạt động và sở thích.

- Nghĩ về cái chết.

Thể lý:

- Khó ngủ, mất ngủ hoặc ngủ quá nhiều.

- Lên cân, xuống ký, ăn uống bất thường.

- Trong người mệt mã, đau nhức cơ thể, nhức đầu.

- Tự tử hoặc cố gắng tự tử.

Trên đây là những triệu chứng điển hình của trầm cảm, các triệu chứng này có thể xuất hiện rất đa dạng ở mỗi cá nhân.

NGUYÊN NHÂN

-         Rối loạn methyl hóa

Theo khảo cứu của Bác sỹ Yang, những người thành đạt vượt trội thường bị ảnh hưởng do rối loạn methyl hóa. Thiếu methyl hóa, đặc biệt là serotonin và dopamine thấp, phù hợp với tính cách người thành đạt, nhiều năng lực, cầu toàn và có tính cạnh tranh trong thể thao và cuộc sống nói chung.   Bác sỹ Yang đã đưa ra dẫn chứng từ cuộc khảo cứu của Tiến sỹ William Walsh căn cứ trên nghiên cứu 30.000 bệnh nhân tâm thần. Kết quả cho thấy có sự liên kết giữa trầm cảm và rối loạn methyl hóa. Ước tính có 38% những người bị trầm cảm nặng do thiếu methyl hóa, trong khi 20% khác bị methyl hóa quá mức do thiếu folate. [4]

-         Ái Kỷ

Ái kỷ (Narcissistic) là triệu chứng tâm lý của một người luôn luôn có cảm nghĩ tuyệt đối về mình: Đẹp nhất, thông minh nhất, thành công nhất, giầu sang nhất… 

Triệu chứng căn bệnh gồm nhu cầu cực kỳ cao về sự sùng bái cá nhân, và một cảm giác cầu toàn tuyệt đối. Người ái kỷ thường từ chối mọi cảm nghĩ mà họ cho là tiêu cực về mình đến từ người khác, không có khả năng để chấp nhận bất cứ sự chỉ trích, phê bình hoặc góp ý nào, và tỏ ra rất thiếu tình cảm đối với những người khác.

Do tính cầu toàn, đối với những người thành đạt vượt trội, việc tìm kiếm sự giúp đỡ có vẻ giống như thất bại và không thể chấp nhận được. Họ thà bắt ép mình phải cố gắng đến kiệt quệ tâm lực cũng như sức lực để không bị rơi vào những yếu đuối, thất bại. Nhưng điều này sẽ chỉ làm trầm trọng thêm các vấn đề sức khỏe tâm thần của họ.

Hội chứng này cần được thẩm định do những nhà chuyên môn và phải được tâm lý trị liệu giúp đỡ.

-         Áp lực của phụ huynh

Trẻ em, học sinh, sinh viên bị trầm cảm hay gặp các vấn đề về tâm lý và chọn tự tử như một cách để giải thoát khi bị áp lực học tập từ nhà trường, gia đình và chính bản thân. 

Trẻ tuổi, đa số là học sinh, sinh viên rơi vào tình trạng trầm cảm, nguyên nhân chính là do thường xuyên gặp áp lực học hành, thi cử, cũng như sự kỳ vọng quá cao của cha mẹ. Một điều rất đáng lưu ý là phần đông phụ huynh không hề quan tâm hoặc hay biết tình trạng trầm cảm này của con cái.

-         Áp lực của chính mình

Những cái chết của các học sinh, sinh viên, ngoài những áp lực và đòi hỏi quá mức của cha mẹ, phần đông cũng là do tự áp lực chính mình. Nguyên nhân những cái chết tự tử liên quan đến học hành, mà trong đó hội chứng ái kỷ cũng ảnh hưởng rất lớn. Không muốn mình bị thua kém, không muốn bị bạn bè coi thường, hoặc không muốn mình trở thành kẻ thua cuộc…

 

GÓP Ý VÀ HƯỚNG DẪN

Trong cái nhìn của tâm lý phát triển và tâm lý giáo dục, có hai loại phụ huynh cần được lưu ý, vì suy nghĩ và hành động của họ sẽ ảnh hưởng đến tương lai sau này của con cái: Khoán trắng cho học đường, hoặc Đòi hỏi và kỳ vọng quá mức.

Khoán trắng cho học đường

Không chỉ các nước phát triển và tiến bộ hiện nay ở Âu Mỹ, mà ngay cả ở Việt Nam lúc này cũng thế, việc khoán trắng tương lai con cái mình cho học đường là một sai lầm rất trầm trọng. Nên nhớ điều này tư cách con người mới làm nên tương lai và tạo cơ hội cho hạnh phúc tương lai: “Đức nhân thắng số”. Việc làm này là việc làm của cha mẹ, của phụ huynh. Học đường chỉ giúp con cái họ phát triển về trí tuệ, khả năng chuyên môn. Hậu quả của một người có trí khôn thông minh và tài năng chuyên môn mà thiếu đạo đức, tư cách sẽ như thế nào điều này phụ huynh nào cũng biết.

Đòi hỏi và kỳ vọng quá mức.

Ngược lại với quan niệm khoán trắng tương lai con cái cho học đường là thái độ đòi hỏi và kỳ vọng quá mức về thành quả cũng như tương lai con cái của một một số phụ huynh. Những đòi hỏi và kỳ vọng này với cái nhìn tâm lý và giáo dục là những đòi hỏi, kỳ vọng vô lý mà ảnh hưởng tiêu cực sẽ dẫn đến những cái chết oan nghiệt của con cái.

Trí óc thông minh, tài năng là tặng ân Thượng Đế ban cho từng người. Nó tùy thuộc vào bản năng di truyền, môi trường giáo dục, cũng như sự cố gắng của mỗi người. Trong khả năng giáo dục của cha mẹ là hướng dẫn, khích lệ và nâng đỡ. Để làm được việc này, phụ huynh cần phải dựa trên những nguyên tắc: thể lý, cảm xúc, xã hội và nhận thức của chính mình trong việc áp dụng giáo dục trên con cái. Cha mẹ phải hiểu được sức khỏe thể lý, cảm xúc, và những môi trường xã hội nào đang ảnh hưởng con mình, cũng như phải căn cứ vào khả năng trí tuệ của mỗi đứa con để nâng đỡ và khích lệ. Nâng đỡ và khích lệ chứ không phải đòi hỏi, và kỳ vọng quá mức.  

_________

Tài liệu tham khảo:

1. https://baomai.blogspot.com/2024/05/nhung-nguoi-thanh-at-co-nguy-co-tu-tu.html

2. https://tienphong.vn/hoc-sinh-tu-tu-vi-ap-luc-hoc-tap-do-nguoi-lon-stress-post1428466.tpo

3. https://www.statista.com/statistics/702116/vietnam-crude-suicide-rate/

4. https://baomai.blogspot.com/2024/05/nhung-nguoi-thanh-at-co-nguy-co-tu-tu.html

Thứ Tư, 8 tháng 5, 2024

TUỔI GIÀ: CÁI NHÌN VỀ THỜI GIAN VÀ TUỔI TÁC

 

Tue, 07/05/2024 - Trần Mỹ Duyệt

TUỔI GIÀ: CÁI NHÌN VỀ THỜI GIAN VÀ TUỔI TÁC

Mấy người bạn của tôi nay người này, mai người khác cứ lần lượt rủ nhau từ giã cõi đời. Những người còn lại thì hồi hộp, thấp thỏm: “Bao giờ đến phiên mình?” Vẫn biết rằng có sinh thì phải có tử, nhưng chuyện gì xảy ra trước và sau đó vẫn là điều mà nhiều người thường hay băn khoăn, lo lắng.

Có hai quan niệm thông thường về tuổi già: Tuổi già đáng kính. Người già được kính trọng bởi “người đầu bạc thì khôn ngoan” (Khôn Ngoan 4: 7-15). Sách Châm ngôn viết: “đầu bạc là một triều thiên vinh dự” (16:31). Còn theo Triết lý Phật Giáo thì: “Cha già là Phật Thích Ca. Mẹ già như thể Phật Bà Quan Âm.” Những người sống đức độ và có tư cách để đời kính phục, con cháu ngưỡng bộ. Hoặc tuổi già không nên nết. Những người không chỉ thể lý già nua, mà tư tưởng và lối sống cũng già nua, thiếu đức độ. Bị người đời coi thường và con cháu xa tránh. 

Bản thân người già cũng có hai lối tự đánh giá: “Nhân lão tâm bất lão.” Những người sống lạc quan, sống thanh thản và hết mình với thời gian mà mình có được. Không nuôi những ý nghĩ chán chường, bi quan, hoặc hận đời. Hoặc ngược lại “Già trước tuổi!” Những người vô cảm, chán nản, và ích kỷ. Họ nhìn đời, nhìn cuộc sống như một món nợ cần phải trả. Họ sống cô đơn, khép kín, buồn tẻ, và luôn có những suy nghĩ tiêu cực. 

Do ảnh hưởng giáo dục, ảnh hưởng môi trường, ảnh hưởng xã hội cũng như tôn giáo, mỗi người nhận định hoặc nhìn đời bằng những góc nhìn và định giá khác nhau. Đó cũng là lý do tại sao có nhiều ý kiến, lời khuyên về suy nghĩ, cách ứng xử, cũng như lối sống của tuổi già. Nhưng già là gì? Thế nào gọi là tuổi già? Và chúng ta phải sống như thế nào khi bước vào tuổi già?

TUỔI GIÀ LÀ GÌ?

Tuổi già được cho là ở vào thời điểm gần hoặc bước vào sự ngưỡng mộ cuộc sống. Những người ở tuổi này được gọi là những vị cao niên, lão thành, bô lão, hoặc những người lớn tuổi, cao tuổi hay nhiều tuổi. Tuổi già không phải là một định nghĩa dựa theo sự thay đổi của cơ thể, chuyển đổi từ giai đoạn này qua giai đoạn khác, mặc dù ấn định của thời gian vẫn được cho là cái mốc của tuổi tác. Tuổi già trình bày trong bài viết này được trích dẫn tài liệu từ Wikipedia. [1]

Trong Luận Ngữ, Khổng Tử luận rằng “Ngũ thập tri thiên mệnh”, nghĩa là ở tuổi 50, con người có thể hiểu và nắm vững quy luật tự nhiên và xã hội, biết được xu thế của thời cuộc. Và khi bước vào tuổi 60 tức “Lục thập nhi nhĩ thuận”, là đạt đến mức độ tròn trịa về mặt tri hành, kiến văn và kinh nghiệm sống.

Về thể lý, tuổi già là thời gian suy thoái cơ thể, có nhiều triệu chứng bệnh tật như cao mỡ, cao máu, tiểu đường, thống phong, tim mạch…phải tùy thuộc vào những trợ giúp của y khoa, của xã hội. Đặc biệt nhất là giới hạn về khả năng của trí khôn do hội chứng Alzheimer, bệnh quên sót và lú lẫn, hoặc giới hạn khả năng giao tiếp xã hội, môi trường và cuộc sống chung quanh.

Xã hội và lịch sử

Tư tưởng Tây Phương cho rằng “tuổi già xấu xí, thời gian yếu đuối và ảm đạm chuẩn bị cho ngày chết”. Mặc dù chết được coi như sự giải phóng của một kiếp người.

Xã hội có những suy nghĩ lẫn lộn về tuổi già, cho rằng nó vừa là nguồn sự khôn ngoan và vừa thiếu sót, kinh nghiệm và lầm lẫn, dũng lực và cam chịu.      

Trong nhiều nền văn hóa, nói chung tuổi già vẫn được xem như yếu đuối, kém cỏi, bất lực, lẩm cẩm, cô đơn, và đôi khi khó tính. Người già hoặc là được kính trọng, nể vì, hoặc là chết trong cô đơn tùy theo mỗi tình huống. Mặc dù hoài nghi về các thần minh, Aristotle cũng đồng quan điểm không ưa gì người già. Trong Ethics (đạo đức học) của mình, ông viết rằng, “Tuổi già đáng thương; người già không nhận thức tình bạn vô vị lợi; chỉ tìm kiếm những gì có thể thỏa mãn những nhu cầu ích kỷ.”

Tâm lý xã hội

Theo Tâm Lý Xã Hội, Erik Erikson trong “Những Giai Đoạn Phát Triển Tâm Lý Xã Hội” cho rằng con người được phát triển giữa một chuỗi 8 giai đoạn từ khi sinh ra, và tiếp tục cho đến hết cuộc đời. Ông đã phân loại tuổi già như thời gian của “Toàn vẹn vs Thất vọng” (Integrity vs. Despair), trong đó phần lớn người già hồi tưởng lại quá khứ.

Đối với những ai mà cuộc sống không thành công thì đây là thời gian cảm thấy đời họ như vô nghĩa, phí phạm và hối hận. Những người này sẽ sống với cảm giác đắng đót và thất vọng. Ngược lại, với những người hãnh diện về các thành quả của mình sẽ nhận thấy một cảm giác hoàn hảo. Tóm lại, đây là giai đoạn mà những người cao niên nhìn lại quá khứ với sự hối hận cũng như hài lòng. Những người già sẽ đạt tới sự khôn ngoan dù phải đối diện với sự chết. Vì đối diện với nó là một khả năng quan trọng cần có của tuổi già, để hướng tới trong cuộc sống mà không bị “dừng lại” với quá khứ. Cách thức đối diện và đón nhận này phản ảnh tiến trình dựa trên mức độ tâm lý xã hội.    

Với những người ở tuổi 80 và 90, Joan Erikson thêm vào giai đoạn thứ 9 trong “The Life Cycle Completed: Extended Version.” Theo bà vì trạng thái hoàn hảo của giai đoạn 8 đề cập đến “một đòi hỏi gắt gao về những cảm giác của người cao niên” và sự Khôn Ngoan của giai đoạn này cũng đòi hỏi những khả năng mà ở giai đoạn 9 “thông thường không có”

Newman & Newman cũng nêu lên cái gọi đó là “Trạng Thái Tuổi Già” (Elderhood) ở giai đoạn thứ 9. Chia người già thành hai nhóm: “Già trẻ trung” (young old), là những người khỏe mạnh có thể tự lập mà không cần sự giúp đỡ của người khác. Họ làm được những công việc tự bảo vệ sức khỏe của mình một cách độc lập. Ngược lại là những người “Già tuổi tác” (old old). Những người luôn lệ thuộc vào những dịch vụ chăm sóc vì yếu kém sức khỏe và bệnh tật.

Đối với những người Việt cao niên hải ngoại, theo Bác Sỹ Dương Xuân Huyên, thường xuyên sống trong trạng thái căng thẳng, cảm giác không thoải mái, vô dụng, mất ngủ, mệt mã, tâm lý bất ổn, và luôn nghĩ đến cái chết. [2] Một vị linh mục thức giả và uyên bác sinh thời đã có lần tâm sự với người viết: “Khi tôi còn khỏe mạnh và hoạt động, người ta đã phải làm hẹn để xin gặp tôi. Nhưng khi tôi đã về hưu, thì thỉnh thoảng có người đến thăm là tôi rất vui và cảm thấy an ủi!”

Tôn giáo

Thông thường, người già ngoan đạo hơn người trẻ. Tại Hoa Kỳ, 90% người già gốc Mễ được cho là rất lặng lẽ, và đạo đức. Theo kết quả khảo cứu của The Pew Research Center giữa người da màu và da trắng, 62% những người từ 65-74 và 70% những người 75 trở lên cho rằng tôn giáo “rất quan trọng”. 76% đàn bà và 53% đàn ông ở tuổi 65 tôn giáo rất quan trọng đối với họ, và 87% người da màu, 63% người da trắng cũng cho rằng tôn giáo “rất quan trọng”.

Những người 60 trở lên 25% đọc Thánh Kinh mỗi ngày, và trên 40% xem những chương trình tôn giáo trên truyền hình. Pew Research cũng cho thấy rằng những người 65 trở lên, 75% người da trắng và 87% người da mầu cầu nguyện mỗi ngày.

Về phương diện thực hành, những người già thường tham dự và sinh hoạt trong các đoàn thể tôn giáo, mặc dù họ thường gặp khó khăn khi di chuyển hoặc sức khỏe.

Việt Nam hiện có trên 26,5 triệu tín đồ tôn giáo, chiếm 27% dân số cả nước. Phật giáo chiếm số lượng nhiều nhất cả về tín đồ lẫn cơ sở thờ tự, kế đến là Công giáo [3], nhưng không có khảo cứu nào về đời sống tâm linh của những người cao niên.

 

NHỮNG VẤN ĐỀ CỦA TUỔI GIÀ

Trong thế giới hiện tại, tuổi già dễ bị coi thường. Joan Erikson nhận định rằng “Những người già thường không được tôn trọng, bị bỏ ra rìa, và quên lãng. Họ bị đánh giá “như không còn sự khôn ngoan nhưng như hóa thân của sự nhục nhã”. Cái nhìn về tuổi già khỏe mạnh cũng khác nhau giữa các nền văn hóa. Nói chung, sức khỏe thể lý và những sinh hoạt xã hội là dấu hiệu của một tuổi già tốt.

Mặc dù thực sự là như thế nào, triết lý tuổi gì ít khi là chủ đề cho những thảo luận công cộng.

Những hiểu lầm

Khi Johnson và Barer khảo sát về “Đời sống qua 85 tuổi”, nhận thấy 24% những người từ 85 trở lên đã không thường xuyên có những cuộc trao đổi với các thành viên gia đình; nhiều vị còn sống lâu hơn cả những người trong gia đình họ. Ngoài ra, giảm thiểu hoạt động và những giao tiếp xã hội đối với những ai trên 85 không ảnh hưởng đến cuộc sống lành mạnh của họ. Sau cùng, thay vì bảo vệ chính kiến, người có tuổi vẫn cho thấy họ có khả năng thay đổi nhận thức và cảm xúc, cũng như thay đổi quan niệm bảo vệ về mình. Tuy nhiên:

- Người già cần có ít nhất một thành viên gia đình để nâng đỡ.

- Tuổi già cần những sinh hoạt có tính cách xã hội.

 - “Hội nhập thành công” đòi hỏi người già thay đổi quan niệm về mình tùy theo tuổi tác.

Sự giúp đỡ: 

Tại Hoa Kỳ năm 2008, 11 triệu người từ 65 trở lên sống cô đơn:

5 triệu (22%) từ 65-74 tuổi.

4 triệu (34%) từ 75-84 tuổi

2 triệu (41%) từ 85 tuổi trở lên

Từ đó dẫn đến nhu cầu chăm sóc người già trở nên cần thiết như cung cấp những dụng cụ và chương trình cho người cao niên. Căn bản là giúp nười cao niên có thể tự mình làm được những việc thường ngày (activities of daily living – ADL). Ngoài ra còn cung cấp những phương tiện di chuyển, những bữa ăn, những dịch vụ chăm sóc chuyên môn và sinh hoạt tại các trung tâm cao niên (senior centers), các viện dưỡng lão (nursing home).  

AN HƯỞNG TUỔI GIÀ

65 tuổi là thời điểm bắt đầu bước vào tuổi hưu trí tại nhiều quốc gia. Vì thế, những người ở tuổi này phải chuẩn bị để đối diện với những thực tế trước mắt như thời gian nhàn rỗi sau khi nghỉ hưu, cô đơn hoặc lão hóa.  

Trong bài viết với chủ đề Tam Tự, tác giả Trầm Thiên Thu đã trích dẫn phân tích sau đây của Dick Lyles: “Gieo suy nghĩ, gặt hành động; gieo hành động, gặt thói quen; gieo thói quen, gặt tính cách; gieo tính cách, gặt số phận.” Rồi kết luận “Thế thì số phận là do mình tạo ra chứ không phải do Trời định”. Theo ông: Sự kết hợp giữa Đức và Tài sẽ tạo nên số phận, hay được gọi là định mệnh. [4]

Tóm lại, tuổi già ngoài một số giới hạn về thể lý, tâm lý, vẫn là thời gian mà ở một nghĩa tích cực, là hồng phúc do Thượng Đế ban cho từng người. Tuy nhiên, hưởng dùng ân huệ ấy như thế nào lại tùy vào suy nghĩ và hành động của mỗi người trong mỗi hoàn cảnh. Vì thế, khi Thượng  Đế ban tặng chúng ta tuổi già, hãy đón nhận và vui hưởng. Với cái nhìn tâm linh, đây cũng là thời gian để chuẩn bị kỹ lưỡng trước khi bước vào cõi vĩnh hằng. Sinh, lão, bệnh, tử. Đó là định luật tự nhiên.

 Sống như thế nào, và chuẩn bị như thế nào cho ngày từ giã cõi đời là việc làm quan trọng nhất của tuổi già. Đối với những người cao niên có niềm tin tôn giáo, đây chính là thời gian để gần gũi với Thượng Đế, an tĩnh với những nhu cầu tâm linh. Nó cũng là thời gian để kết nối, sống hòa thuận với những người thân, bạn bè, và con cháu, để ngày từ biệt trần gian chúng ta ra đi trong thanh thản: 

“Tôi đã nhận được từ nơi Chúa. Bình an, niềm vui, với yêu thương:

Xin để lại anh em tất cả. Ca lên đi khúc hát chia tay.”

(Xin Để Lại Anh Em. Lm. Thiện Cẩm)

___________

Tài liệu tham khảo:

1. https://en.wikipedia.org/wiki/Old_age

2. Huyen Duong. Depression in the Elderly in Vietnamese Community In Orange County.

California State University Fullerton, 2008.

3. https://tuoitre.vn/cong-bo-sach-trang-ve-cac-ton-giao-o-viet-nam-20230309124756105.htm

4. https://tramthienthu.blogspot.com/2017/09/tam-tu.html

Thứ Sáu, 12 tháng 4, 2024

Wed, 10/04/2024 - Trần Mỹ Duyệt GIÁ TRỊ CỦA MỘt KIE^!P NGU*O*ì

Wed, 10/04/2024 - Trần Mỹ Duyệt

GIÁ TRỊ CỦA MỘT KIẾP NGƯỜI

Chu kỳ sống của loài ve từ 2-17 năm ngoài hoang dã. Hầu hết cuộc đời của chúng sống như những ấu trùng dưới lòng đất tùy mỗi loại khác nhau. Khi tới thời hạn, chúng bò lên mặt đất, bám vào các thân cây dưới hình dạng một con kén, sau đó trút bỏ cái vỏ kén và trở thành con ve với đôi cánh có thể bay từ cành này qua cành khác, từ cây nọ sang cây kia.

Có thể vì tiếng kêu của nó da diết, và nó thường hay xuất hiện vào mùa hè, mỗi khi học trò được nghỉ hè, xa trường, xa thầy cô, xa bạn với nỗi lòng lưu luyến, nên chúng được người Việt gọi là “ve sầu”. Nhạc sỹ Thanh Sơn đã ghi lại những cảm xúc trong đó có nhắc đến loài ve như sau:

Mỗi năm đến hè lòng man mác buồn

Chín mươi ngày qua chứa chan tình thương

Ngày mai xa cách hai đứa hai nơi

Phút gần gũi nhau mất rồi

Tạ từ là hết người ơi!

Tiếng ve nức nở buồn hơn tiếng lòng

Biết ai còn nhớ đến ân tình không

Đường xưa in bóng hai đứa nay đâu

Những chiều hẹn nhau lúc đầu

Giờ như nước trôi qua cầu.

(Nỗi Buồn Hoa Phượng. Thanh Sơn)

Trên khắp thế giới, ve có khoảng hơn 3.000 loại khác nhau. Chúng thuộc một trong hai nhóm: hàng năm, có nghĩa là chúng xuất hiện mỗi hai năm, và loại đặc biệt, chúng thường kéo dài cuộc sống dưới lòng đất và chỉ xuất hiện một lần mỗi 10 năm hoặc lâu hơn.

Cuộc sống của chúng chỉ kéo dài ít tuần (khoảng 4 tới 6 tuần) sau khi lên khỏi mặt đất, và kết thúc sau khi giao hợp với nhau và con cái đã đẻ trứng. Tùy mỗi loại có chu kỳ khác nhau: loại 2-5 năm, loại 13 năm, loại 17 năm v.v... 

Mỗi khi nhớ lại những mùa hè khi xưa lúc còn ở quê nhà với tiếng ve kêu như tiếng lòng thổn thức; đặc biệt qua giọng ca Thanh Tuyền, nhiều đêm tôi cũng trằn trọc và tưởng nhớ đến cha mẹ mình, nhất là trong thời gian các ngài còn sống. “Nỗi Buồn Hoa Phượng” những lúc ấy lại đưa tôi về với “Quê Mẹ” qua giọng ngâm và tiếng hát Hoàng Oanh:

Ðêm khuya trăng mơ, mắt trông về trong cõi xa mờ.

Nơi xa xăm kia, tôi say nhìn quê cũ dấu yêu

Ôi tình quê hương, nơi chốn xưa có người mẹ hiền,

Tóc màu hoa bạc, chiều chiều mắt ngấn lệ vì con.

(Quê Mẹ. Thu Hồ)

Tôi nay đã trên thất thập và mẹ tôi cũng không còn nữa, nhưng mỗi lần khi nghe bài hát này, tôi thật sự bồi hồi, xúc động. Ôi mẹ hiền của con, giờ thì mẹ cũng không còn nơi dương thế để chiều chiều mắt ngấn lệ vì con. Nhưng con thì vẫn mắt ngấn lệ mỗi khi nghĩ và nhớ đến mẹ, đến cha. Mỗi lần như vậy, hình ảnh những ngôi mộ nơi cha mẹ đang yên giấc tại quê nhà lại sống động trong tâm trí con. 

Trong tâm trí tôi, trong ký ức tôi và qua kinh nghiệm nghề nghiệp, những hình ảnh người cha vất vả, người mẹ tần tảo nuôi con không thiếu. Đặc biệt, những hình ảnh mà cha mẹ phải đau khổ, bị dằn vặt tinh thần để mong cứu con mình ra khỏi những cạm bẫy đen tối của xã hội. Không biết những người con đang tự giết đời mình, giết chết tương lai mình bằng những tệ nạn xã hội có bao giờ nghĩ và suy đến câu ca dao: “Chín tháng cưu mang. Ba năm bú mớm”?

Thai kỳ của con người theo y khoa và các bác sỹ sản phụ khoa kéo dài khoảng 280 ngày hoặc 40 tuần lễ, có nghĩa tương đương với 10 tháng. Tuy nhiên, quan niệm chung vẫn cho rằng thời gian mang thai là 9 tháng 10 ngày. Một chi tiết nữa là thai kỳ của các em bé gái thường kéo dài hơn so với các bé trai. 

Có lẽ cha mẹ các nạn nhân của những thứ tệ nạn xã hội nay đang còn sống hoặc đã chết thì cũng chỉ mong rằng con họ sớm thoát khỏi địa ngục đang giam hãm chúng, để chúng sống một cuộc đời xứng đáng hơn với thân phận, với nhân phẩm một con người! Tại văn phòng, một bà mẹ đã nói với tôi qua những dòng nước mắt:

Cha mẹ nào mà lại không thương con, không muốn con mình sống tốt, và hạnh phúc? Nhưng thật bất hạnh khi có những đứa con không nhận ra hoặc cố ý chối bỏ tình thương ấy. Hai thằng con tôi chúng làm tôi sống cũng không xong, mà chết cũng không được với chúng nó. Cả hai chưa đầy 18 tuổi mà nay vào tù, mai xổ khám. Nhiều lần bị đâm, bị chém, bị bắn trọng thương. Tôi đã khóc hết nước mắt vì chúng! Tôi thấy tôi bất lực và vô phúc quá. Phải chi tôi không sinh chúng ra thì hơn!

Thế còn cha mẹ của những người đàn ông, đàn bà, những người trung niên và lớn tuổi đứng tại các ngã ba, ngã tư xin tiền người qua lại thì sao? Mỗi lần thấy họ chui ra từ chiếc thùng rác, hoặc cuộn trong cái mền cũ, dơ bẩn như một con kén nằm cạnh vệ đường hay những xó xỉnh các khu thương mại, tôi không khỏi ngậm ngùi cho “Chín tháng mười ngày. Ba năm bú mớm” của cha mẹ họ! Tôi tin rằng, những người ấy cũng đã có một tuổi thơ hạnh phúc đầy ắp tiếng cười, một thời cắp sách đến trường, một thời là những kỹ sư hay những nhân công trong các hãng xưởng. Nhưng nay thì hoàn cảnh đã đưa đẩy. Họ đã để mình rơi vào những ngõ cụt cuộc đời.  

Lỗi tại đâu, và lỗi do ai tùy thuộc vào từng hoàn cảnh, nhưng điều này cũng nhắc nhở những ai có trách nhiệm giáo dục, hoặc đang quan tâm đến giáo dục:   

Nuôi con ăn lớn lên là nuôi xác thân của con.

Gửi con đến trường là để phát triển trí tuệ của con.

Nhưng tập cho con có tâm mới là giáo dục con.

Thân, trí, và tâm là ba khía cạnh của cuộc sống con người. Trưởng thành thể lý, trưởng thành tâm lý, và trưởng thành tâm linh. Trưởng thành thể lý thuộc về phát triển con người tự nhiên. Trưởng thành tâm lý giúp con người biết chế ngự và làm chủ cảm xúc. Trưởng thành tâm linh mới giúp con người nhận định điều tốt, điều xấu, cái nên làm, cái không nên làm, và biết sống đúng phẩm giá cao quí của một người.

Để thành con ve đẹp và ca hát trong ít tuần, tiến trình của chúng phải mất từ 2 đến 17 năm trong lòng đất. Để thành một người tốt, thời gian giáo dục và tu luyện đòi hỏi nhiều hơn thế. Nó không chỉ bắt đầu bằng chín tháng trong lòng mẹ, ba năm trên gối mẹ, mà còn kéo dài cả một đời người.  

Kiếp sống của loài ve có thể làm cho chúng ta liên tưởng đến cuộc đời và giá trị cuộc đời của mỗi chúng ta. Loài ve trước khi chết, chúng còn đem lại tiếng hát ru đời. Được may mắn được sinh ra làm người, chúng ta nghĩ gì về đặc ân này? Và sẽ để lại gì sau khi từ giã cõi đời?! 

Thứ Tư, 10 tháng 4, 2024

GIÁ TRỊ CỦA MỘT KIẾP NGƯỜI

 

Wed, 10/04/2024 - Trần Mỹ Duyệt

GIÁ  TRỊ  CỦA  MỘT  KIẾP  NGƯỜI

Chu kỳ sống của loài ve từ 2-17 năm ngoài hoang dã. Hầu hết cuộc đời của chúng sống như những ấu trùng dưới lòng đất tùy mỗi loại khác nhau. Khi tới thời hạn, chúng bò lên mặt đất, bám vào các thân cây dưới hình dạng một con kén, sau đó trút bỏ cái vỏ kén và trở thành con ve với đôi cánh có thể bay từ cành này qua cành khác, từ cây nọ sang cây kia.

Có thể vì tiếng kêu của nó da diết, và nó thường hay xuất hiện vào mùa hè, mỗi khi học trò được nghỉ hè, xa trường, xa thầy cô, xa bạn với nỗi lòng lưu luyến, nên chúng được người Việt gọi là “ve sầu”. Nhạc sỹ Thanh Sơn đã ghi lại những cảm xúc trong đó có nhắc đến loài ve như sau:

Mỗi năm đến hè lòng man mác buồn

Chín mươi ngày qua chứa chan tình thương

Ngày mai xa cách hai đứa hai nơi

Phút gần gũi nhau mất rồi

Tạ từ là hết người ơi!

Tiếng ve nức nở buồn hơn tiếng lòng

Biết ai còn nhớ đến ân tình không

Đường xưa in bóng hai đứa nay đâu

Những chiều hẹn nhau lúc đầu

Giờ như nước trôi qua cầu.

(Nỗi Buồn Hoa Phượng. Thanh Sơn)

Trên khắp thế giới, ve có khoảng hơn 3.000 loại khác nhau. Chúng thuộc một trong hai nhóm: hàng năm, có nghĩa là chúng xuất hiện mỗi hai năm, và loại đặc biệt, chúng thường kéo dài cuộc sống dưới lòng đất và chỉ xuất hiện một lần mỗi 10 năm hoặc lâu hơn.

Cuộc sống của chúng chỉ kéo dài ít tuần (khoảng 4 tới 6 tuần) sau khi lên khỏi mặt đất, và kết thúc sau khi giao hợp với nhau và con cái đã đẻ trứng. Tùy mỗi loại có chu kỳ khác nhau: loại 2-5 năm, loại 13 năm, loại 17 năm v.v... 

Mỗi khi nhớ lại những mùa hè khi xưa lúc còn ở quê nhà với tiếng ve kêu như tiếng lòng thổn thức; đặc biệt qua giọng ca Thanh Tuyền, nhiều đêm tôi cũng trằn trọc và tưởng nhớ đến cha mẹ mình, nhất là trong thời gian các ngài còn sống. “Nỗi Buồn Hoa Phượng” những lúc ấy lại đưa tôi về với “Quê Mẹ” qua giọng ngâm và tiếng hát Hoàng Oan

Ðêm khuya trăng mơ, mắt trông về trong cõi xa mờ.

Nơi xa xăm kia, tôi say nhìn quê cũ dấu yêu

Ôi tình quê hương, nơi chốn xưa có người mẹ hiền,

Tóc màu hoa bạc, chiều chiều mắt ngấn lệ vì con.

(Quê Mẹ. Thu Hồ)

Tôi nay đã trên thất thập và mẹ tôi cũng không còn nữa, nhưng mỗi lần khi nghe bài hát này, tôi thật sự bồi hồi, xúc động. Ôi mẹ hiền của con, giờ thì mẹ cũng không còn nơi dương thế để chiều chiều mắt ngấn lệ vì con. Nhưng con thì vẫn mắt ngấn lệ mỗi khi nghĩ và nhớ đến mẹ, đến cha. Mỗi lần như vậy, hình ảnh những ngôi mộ nơi cha mẹ đang yên giấc tại quê nhà lại sống động trong tâm trí con. 

Trong tâm trí tôi, trong ký ức tôi và qua kinh nghiệm nghề nghiệp, những hình ảnh người cha vất vả, người mẹ tần tảo nuôi con không thiếu. Đặc biệt, những hình ảnh mà cha mẹ phải đau khổ, bị dằn vặt tinh thần để mong cứu con mình ra khỏi những cạm bẫy đen tối của xã hội. Không biết những người con đang tự giết đời mình, giết chết tương lai mình bằng những tệ nạn xã hội có bao giờ nghĩ và suy đến câu ca dao: “Chín tháng cưu mang. Ba năm bú mớm”?

Thai kỳ của con người theo y khoa và các bác sỹ sản phụ khoa kéo dài khoảng 280 ngày hoặc 40 tuần lễ, có nghĩa tương đương với 10 tháng. Tuy nhiên, quan niệm chung vẫn cho rằng thời gian mang thai là 9 tháng 10 ngày. Một chi tiết nữa là thai kỳ của các em bé gái thường kéo dài hơn so với các bé trai. 

Có lẽ cha mẹ các nạn nhân của những thứ tệ nạn xã hội nay đang còn sống hoặc đã chết thì cũng chỉ mong rằng con họ sớm thoát khỏi địa ngục đang giam hãm chúng, để chúng sống một cuộc đời xứng đáng hơn với thân phận, với nhân phẩm một con người! Tại văn phòng, một bà mẹ đã nói với tôi qua những dòng nước mắt:

Cha mẹ nào mà lại không thương con, không muốn con mình sống tốt, và hạnh phúc? Nhưng thật bất hạnh khi có những đứa con không nhận ra hoặc cố ý chối bỏ tình thương ấy. Hai thằng con tôi chúng làm tôi sống cũng không xong, mà chết cũng không được với chúng nó. Cả hai chưa đầy 18 tuổi mà nay vào tù, mai xổ khám. Nhiều lần bị đâm, bị chém, bị bắn trọng thương. Tôi đã khóc hết nước mắt vì chúng! Tôi thấy tôi bất lực và vô phúc quá. Phải chi tôi không sinh chúng ra thì hơn!

Thế còn cha mẹ của những người đàn ông, đàn bà, những người trung niên và lớn tuổi đứng tại các ngã ba, ngã tư xin tiền người qua lại thì sao? Mỗi lần thấy họ chui ra từ chiếc thùng rác, hoặc cuộn trong cái mền cũ, dơ bẩn như một con kén nằm cạnh vệ đường hay những xó xỉnh các khu thương mại, tôi không khỏi ngậm ngùi cho “Chín tháng mười ngày. Ba năm bú mớm” của cha mẹ họ! Tôi tin rằng, những người ấy cũng đã có một tuổi thơ hạnh phúc đầy ắp tiếng cười, một thời cắp sách đến trường, một thời là những kỹ sư hay những nhân công trong các hãng xưởng. Nhưng nay thì hoàn cảnh đã đưa đẩy. Họ đã để mình rơi vào những ngõ cụt cuộc đời.  

Lỗi tại đâu, và lỗi do ai tùy thuộc vào từng hoàn cảnh, nhưng điều này cũng nhắc nhở những ai có trách nhiệm giáo dục, hoặc đang quan tâm đến giáo dục:   

Nuôi con ăn lớn lên là nuôi xác thân của con.

Gửi con đến trường là để phát triển trí tuệ của con.

Nhưng tập cho con có tâm mới là giáo dục con.

Thân, trí, và tâm là ba khía cạnh của cuộc sống con người. Trưởng thành thể lý, trưởng thành tâm lý, và trưởng thành tâm linh. Trưởng thành thể lý thuộc về phát triển con người tự nhiên. Trưởng thành tâm lý giúp con người biết chế ngự và làm chủ cảm xúc. Trưởng thành tâm linh mới giúp con người nhận định điều tốt, điều xấu, cái nên làm, cái không nên làm, và biết sống đúng phẩm giá cao quí của một người.

Để thành con ve đẹp và ca hát trong ít tuần, tiến trình của chúng phải mất từ 2 đến 17 năm trong lòng đất. Để thành một người tốt, thời gian giáo dục và tu luyện đòi hỏi nhiều hơn thế. Nó không chỉ bắt đầu bằng chín tháng trong lòng mẹ, ba năm trên gối mẹ, mà còn kéo dài cả một đời người.  

Kiếp sống của loài ve có thể làm cho chúng ta liên tưởng đến cuộc đời và giá trị cuộc đời của mỗi chúng ta. Loài ve trước khi chết, chúng còn đem lại tiếng hát ru đời. Được may mắn được sinh ra làm người, chúng ta nghĩ gì về đặc ân này? Và sẽ để lại gì sau khi từ giã cõi đời?!

Thứ Tư, 3 tháng 4, 2024

LÒNG THƯƠNG XÓT CHÚA: QUÀ TẶNG CỦA PHỤC SINH

Wed, 03/04/2024 -  Trần Mỹ Duyệt

LÒNG THƯƠNG XÓT CHÚA: QUÀ TẶNG CỦA PHỤC SINH

BÀI GIẢNG CỦA ĐỨC GIÁO HOÀNG GIOAN PHAOLÔ II

Đệ nhất chu niên cử hành Chúa Nhật Lòng Thương Xót Chúa, 2001

Trần Mỹ Duyệt chuyển ngữ

Lòng Thương Xót Chúa: Quà tặng của Phục Sinh

“Đừng sợ, Ta là nguyên thủy và cùng đích, và là Đấng hằng sống. Ta đã chết, và nay ta đang sống tới muôn đời” (Khải Huyền 1:17-18)

Chúng ta nghe những lời yên ủi này trong Bài Đọc Thứ Hai trích từ Sách Khải Huyền. Những lời mời gọi chúng ta hướng tầm nhìn vào Đức Kitô, để cảm nghiệm sự hiện diện an ủi của Ngài. Đối với mỗi người, trong bất cứ điều kiện nào, ngay cả nếu nó rất phức tạp và thê thảm, Đấng Phục Sinh cũng nhắc nhở: “Đừng sợ. Ta đã chết trên Thập Giá nhưng nay Ta đang sống đến muôn đời”. “Ta là nguyên thủy và cùng đích, và là đấng hằng sống”.

“Trước hết” nghĩa là, suối nguồn của mọi tạo vật và những hoa trái đầu mùa của tạo dựng mới. “Sau hết”, sự chấm dứt cuối cùng của lịch sử. “Đấng hằng sống”, suối nguồn bất tận của sự sống đã chiến thắng trên sự chết muôn đời.

Trong Đấng Cứu Thế, chịu đóng đinh thập giá và sống lại, chúng ta nhận ra những hình ảnh của Con Chiên bị sát tế trên đồi Golgotha, Đấng bày tỏ sự tha thứ cho những kẻ đánh đập Ngài và mở những cánh cửa thiên đàng cho những tội nhân biết xám hối. Chúng ta hãy đưa mắt nhìn lên khuôn mặt của Vua muôn thuở, Đấng giờ đây có “chìa khóa của Sự Chết và Vực Thẳm” (Khải Huyền 1:18).

Hãy dâng lời tạ ơn lên Chúa, vì Ngài thiện hảo. Vì lòng thương xót Ngài bền vững muôn đời! (Thánh Vịnh 117:1). Chúng ta hãy diễn tả ý tưởng của nhà thánh vịnh mà chúng ta vừa hát trong phần Đáp Ca: “Lòng thương xót Chúa tồn tại đến muôn đời!” Để hiểu một cách tường tận sự thật của những từ ngữ này, chúng ta hãy để mình được hướng dẫn bởi phụng vụ đi vào trung tâm của biến cố cứu chuộc, biến cố nối kết Cái Chết và Phục Sinh của Đức Kitô với đời sống của chúng ta và với lịch sử của thế giới. Phép lạ tình thương này đã thay đổi một cách toàn diện định mệnh của nhân loại. Nó là một phép lạ trong đó bày tỏ đầy đủ tình yêu của Chúa Cha, Đấng, vì sự cứu độ của chúng ta, đã không dừng lại trước khi sát tế người Con Duy Nhất của Ngài.

Trong Đức Kitô đau khổ và khiêm nhường, những ai có niềm tin và những người không tin có thể ngưỡng mộ một mối liên hệ tuyệt vời, đang trói buộc Ngài với điều kiện con người của chúng ta vượt trên tất cả mọi đo lường có thể tưởng tượng. Thập Giá, ngay cả sau cuộc Phục Sinh của Con Thiên Chúa, “nói và không ngừng nói về Thiên Chúa người Cha, Đấng đã trung tín một cách tuyệt đối tình yêu muôn thuở của Ngài cho đối với con người… Tin tưởng vào tình yêu này có nghĩa là tin tưởng vào lòng thương xót” (Rich in Mercy, 7).   

Chúng ta hãy cảm tạ Thiên Chúa vì tình yêu của Ngài, tình yêu mạnh hơn sự chết và tội lỗi. Nó được tiết lộ và đem vào thực hành như lòng thương xót trong đời sống thường ngày của chúng ta, và nhắc nhớ từng người, đến lượt mình, để có “lòng thương xót” hướng về Đấng Chịu Đóng Đinh. Đó không phải là kính mến Thiên Chúa và yêu thương người láng giềng, và ngay cả người là “kẻ thù”, theo gương Chúa Giêsu, một chương trình sống của mỗi cá nhân đã lãnh phép rửa tội, và toàn thể Giáo Hội sao?

Một niềm vui lớn lao

Với những tình cảm này, chúng ta cử hành Chúa Nhật Thứ Hai Phục Sinh, mà từ năm ngoái, năm Đại Năm Thánh, cũng được gọi là “Chúa Nhật Lòng Thương Xót Chúa”. Nó là một niềm vui lớn lao để nối kết tất cả chúng ta, những khách hành hương và các tín hữu thân mến, những người đã đến đây từ nhiều quốc gia để cử hành, sau một năm, ngày tuyên phong hiển thánh cho Nữ Tu Faustina Kowalska, chứng nhân và sứ giả của tình yêu thương xót của Thiên Chúa.  

Việc nâng lên để tôn vinh trên bàn thờ người tu sỹ khiêm nhường này, một người con của đất nước chúng tôi, không chỉ là một hồng ân đối với Balan nhưng còn cho tất cả nhân loại. Thật vậy, sứ điệp mà nữ tu đã đem lại là một câu trả lời chính xác và rõ ràng mà Thiên Chúa đã muốn mang lại cho những câu hỏi và những khát vọng của con người trong thời đại chúng ta, được ghi dấu bằng những thảm kịch kinh hoàng. Vào một ngày kia, Chúa Giêsu đã nói với Thánh Nữ Faustina: “Nhân loại sẽ không có được hòa bình cho đến khi nó quay về với niềm tín thác vào tình thương xót của Cha” (Nhật Ký, 300). Lòng Thương Xót Chúa! Đây là tặng ân Phục Sinh mà Giáo Hội nhận được từ Đức Kitô phục sinh và ban cho nhân loại trong buổi bình minh của Đệ Tam Thiên Niên Kỷ.

Phúc Âm vừa được công bố, giúp chúng ta nắm bắt ý nghĩa đầy đủ và giá trị của quà tặng này. Thánh Sử Gioan làm cho chúng ta chia sẻ xúc động cảm thấy bởi các Tông Đồ trong cuộc gặp gỡ của các ông với Chúa Kitô sau Phục Sinh của Ngài. Sự chú ý của chúng ta chú tâm vào điệu bộ của Thầy, Ngài truyền đạt cho những môn đệ đang sợ hãi và kinh ngạc sứ mạng là những chứng nhân của Lòng Thương Xót Chúa. Ngài cho họ xem tay và cạnh sườn Ngài, nơi mang những thương tích của tuần Thương Khó, và nói với các ông: “Như Cha đã sai Thầy, Thầy cũng sai các anh em” (Gioan 20:21).

Lập tức ngay sau đó, “Ngài thở hơi trên họ, và nói với họ, ‘Hãy nhận lấy Thánh Thần. Các con tha tội cho ai, người ấy được tha. Các con cầm buộc tội ai, người ấy bị cầm buộc’” (Gioan 20:22-23). Chúa Giêsu trao phó cho các ông đặc ân “tha tội”, một tặng ân tuôn trào từ những thương tích nơi tay, chân, và đặc biệt từ cạnh sườn bị đâm thâu của Ngài. Từ đó một triền sóng của tình thương được đổ trên toàn thể nhân loại.

Chúng ta hãy làm sống lại giây phút ấy với sức mạnh tinh thần lớn lao. Hôm nay, Chúa cũng chỉ cho chúng ta những dấu tích vinh hiển của Ngài, và Trái Tim Ngài, một nguồn suối không hề cạn của ánh sáng và sự thật, của tình yêu và sự tha thứ.

Trái Tim của Đức Kitô!

“Trái Tim Rất Thánh” của Ngài đã ban cho con người mọi sự: ơn tha thứ, ơn cứu chuộc, và ơn thánh hóa. Thánh Faustina Kowalska nhìn thấy từ Trái Tim ấy tuôn chảy với tình yêu vô tận, hai luồng ánh sáng mà nó chiếu sáng thế giới.

Hai luồng sáng, (theo những gì chính Chúa Giêsu đã nói với thánh nữ), ám chỉ máu và nước (Nhật Ký, 299). Máu nhắc nhở hiến tế đồi Golgotha và mầu nhiệm Thánh Thể. Nước, theo dấu chỉ phong phú của Thánh Sử Gioan, khiến chúng ta nghĩ đến Phép Rửa Tội và Ân Huệ của Chúa Thánh Thần (Xem Gioan 3:5; 4:1).

Qua mầu nhiệm của Trái Tim bị thương tích này, một cường triều mạnh mẽ của tình yêu thương xót của Thiên Chúa tiếp tục chảy trên những người nam và người nữ của thời đại chúng ta. Chỉ duy nhất ở đây, những ai mong chờ hạnh phúc thật và vững bền tìm thấy bí mật của nó.

“Lạy Chúa Giêsu, Con tín thác nơi Chúa!”

Lời cầu xin này, êm dịu đối với những tâm hồn sốt sắng, diễn tả một cách rõ ràng thái độ mà với nó, cả chúng ta nữa cũng muốn quên chính mình một cách tín thác trong tay Chúa, Lạy Chúa, Đấng Cứu Chuộc duy nhất của chúng con.

Anh chị em đang được đốt cháy với ước vọng được yêu và những ai cùng hòa điệu với những tình cảm của Cha, học cách xây dựng một nền văn minh tình thương. Một hành động đơn sơ của sự từ bỏ đủ để thắng vượt những rào cản của tối tăm và đau khổ, của nghi ngờ và thất vọng. Những luồng sáng của Tình Thương Xót Cha tái lập hy vọng, một cách đặc biệt, cho những ai cảm thấy bị đè bẹp bởi sức nặng của tội lỗi.

Lạy Mẹ Maria, Mẹ của Lòng Thương Xót, xin giúp chúng con luôn luôn biết tín thác nơi Con của mẹ, Đấng Cứu Chuộc chúng con. Xin giúp chúng tôi nữa, lạy Thánh Faustina, đấng chúng tôi kính nhớ hôm nay với lòng sùng mộ đặc biệt. Xin hãy đặt cái nhìn yếu ớt của chúng tôi lên khuôn mặt Đấng Cứu Thế thần linh, để chúng tôi có thể nhắc lại cùng với người: “Lạy Chúa Giêsu, Con tín thác nơi Chúa!” Bây giờ và mãi mãi. Amen.

_______

Nguồn: https://divinemercysunday.com/popes-homily.htm

Chủ Nhật, 3 tháng 3, 2024

NHỮNG NGUYÊN NHÂN GÂY ĐỔ VỠ HÔN NHÂN

 

Sun, 03/03/2024 -Trần Mỹ Duyệt

NHỮNG NGUYÊN NHÂN GÂY ĐỔ VỠ HÔN NHÂN

Trần Mỹ Duyệt

“Tình mất vui khi đã vẹn câu thề

Đời chỉ đẹp những khi còn dang dở.”

(Ngập Ngừng. Hồ Dzếnh)

Chưa bao giờ hai câu thơ nghe như “dở hơi” của thi sỹ Hồ Dzếnh lại ứng nghiệm một cách rõ ràng, đầy đủ và rộng rãi trong xã hội như lúc này. Khi mà tình yêu, hạnh phúc hôn nhân, đời sống gia đình đối với nhiều người được coi như trò đùa tình ái, như đóa phù dung “sớm nở, tối tài”. Trong tình trạng ấy, câu hỏi mà có lẽ nhiều bạn trẻ vẫn thường hỏi phụ huynh mỗi khi họ được nghe nhắc đến hai chữ hôn nhân là: “Lấy chồng làm gì? Lấy vợ làm gì? Tại sao lại phải lấy chồng, lấy vợ để rồi hậu quả là tình sẽ mất vui khi hai người đã về một nhà với nhau?” Tuổi trẻ quan niệm về hôn nhân, về hạnh phúc hôn nhân không chỉ dựa vào những thông tin lượm lặt trên internet, trên sách vở hoặc do bạn bè, mà còn chứng kiến tận mắt những gì cha mẹ họ đã đối xử với nhau, và với chính họ trong gia đình.

Đang khi đó, xã hội lại có những cái nhìn khác về hôn nhân, và về sự bền vững của hôn nhân. Ngay cả những định nghĩa về hôn nhân, về gia đình cũng đang được sửa đổi lại cho phù hợp với nếp sống và quan niệm như hiện nay. Thí dụ, Hôn nhân là gì? Vợ hay chồng là gì? Gia đình là gì? 

Đi tìm câu trả lời thì các nhà luân lý, đạo đức đổ lỗi cho những trào lưu tư tưởng mới đã hình thành con người mới, nảy sinh những quan niệm, những lối sống được cho làm biến thái và đảo lộn ý nghĩa cũng như nền tảng của hôn nhân, gia đình. Luân lý và đạo đức vì thế lên án việc trai gái sống chung mà không cần hôn thú, hôn nhân đồng tính, hoặc chuyển giới…

Ngược lại, trào lưu văn hóa và văn minh hiện đại lại đổ lỗi cho đạo đức là quá câu nệ, hình thức, và lỗi thời không theo kịp đà tiến hóa của nhân loại. Thêm vào đó là những ảnh hưởng của chính trị khi áp dụng những luật lệ đi ngược lại với các giá trị truyền thống và nguyên tắc ảnh hưởng đến nền tảng cũng như sự bền vững của hôn nhân.

Những Lý Do Dẫn Đến Ly Dị: 

Một cách tổng quát, hôn nhân cũng được gọi là sự kết hợp được chấp nhận một cách hợp pháp, được xã hội thừa nhận giữa một người nam và một người nữ, và gọi họ là vợ chồng, hay người phối ngẫu. Nó thiết lập những quyền lợi và sự ràng buộc giữa họ, cũng như giữa họ với con cái, và giữa họ cũng như những người thân hai bên.

Riêng đối với Kitô Giáo, hôn nhân còn được cho là một “ơn gọi”, một lời mời gọi của Thượng Đế dành cho đôi nam nữ, cũng như lời mời gọi của hai người dành cho nhau. Đây không phải là một khế ước dân sự, một thỏa hiệp hay một lời thề nguyền suông. Hôn nhân Kitô Giáo là một ràng buộc có tính cách tâm linh: “Sự gì Thiên Chúa đã liên kết, loài người không được phân ly” (Mt 19:6). Lời thề trong ngày cưới giữa hai người được xây dựng trên niềm tin và tình yêu. Do đó, việc làm tan vỡ, hay phá bỏ lời thệ hôn, không chỉ là một hành động ngược lại với lề luật Thượng Đế, một sự thất trung, coi thường, và khinh bỉ những gì hai người đã thề hứa. Nó còn đem lại những hậu quả rất đau đớn, tai hại sau này cho hai người cũng như con cái và những người thân yêu của họ.

Bởi vì việc hòa hợp giữa hai người nam nữ là một sự kết hợp tuy đẹp đẽ, lãng mạn, tình cảm nhưng cũng rất phức tạp. Nó bị ảnh hưởng bởi tâm lý khác biệt nam nữ, giáo dục, văn hóa, giáo dục gia đình, di truyền, và cả tôn giáo. Do đó, hôn nhân tan vỡ là một bi kịch. Trong bi kịch này có rất nhiều lý do. Sau đây là một số những kết quả khảo cứu từ nhiều nguồn trong lãnh vực tình yêu, hôn nhân, gia đình, tâm lý, xã hội, và văn hóa.   

-Ngoại tình.

-Tứ đổ tường.

-Khó khăn về tài chánh.

-Không chu toàn lời hứa.

-Bạo hành gia đình.

-Kết hôn quá trẻ.

-Khắc khẩu.

-Thiếu sự cảm thông.

-Lạm dụng (thể lý, tâm lý, sinh lý…). [1]

Xác Xuất Tiêu Biểu:

Trong một khảo cứu khác, thống kê cho thấy chỉ số ly dị tùy thuộc mỗi lý do. Bắt đầu từ những lý do có xác xuất cao nhất đến những lý do có xác xuất thấp nhất. [2]

Lý do                                                               Xác Suất       

Thiếu sự nâng đỡ gia đình                              43%

Ngoại tình hoặc trai gái ngoài hôn nhân        34%

Thiếu sự đồng thuận, đồng hành                    31%

Thiếu thân thiện                                              31%

Cãi cọ, bất hòa                                                31%

Căng thẳng tài chính                                       24%

Thất hứa                                                          23%

Bất hòa trong việc giáo dục con                     20%

Kết hôn quá trẻ                                               10%

Bất đồng những giá trị luân lý, đạo đức         6%

Bạo hành gia đình                                           3%

Khác biệt lối sống                                           1%                             

Như vậy, theo xác suất trên, yếu tố thông thường nhất dẫn đến việc tan vỡ một cuộc hôn nhân, cũng là lý do mà có lẽ khiến nhiều người ngạc nhiên: Thiếu sự nâng đỡ gia đình. Thí dụ, vợ chồng không chia sẻ trách nhiệm với nhau, không nâng đỡ nhau, mạnh ai nấy sống. Mỗi người là một thế giới riêng, đôi khi còn đối xử bất công với nhau. Sự thiếu nâng đỡ sẽ càng trở nên mối đe dọa hơn khi thời gian sống chung kéo dài. Những tan vỡ kiểu này xảy ra trong khoảng từ 2 đến 8 năm sau kết hôn.

Thời gian cũng là yếu tố quan trọng đóng góp vào việc xây dựng hạnh phúc hay làm tan vỡ một gia đình. Nó có thể khiến vợ chồng càng ngày càng trở nên gắn bó, mật thiết và yêu thương nhau. Ngược lại, nó cũng có thể gây ra tâm lý nhàm chán, tâm lý “thức lâu, chầu mỏi”, và tâm lý “gần chùa gọi bụt bằng anh”…

Tiếp đến vợ chồng thường xuyên cãi vã, bất hòa, thiếu hiểu biết, không có tiếng nói chung. 59% những cuộc ly dị xảy ra trong năm đầu là do thiếu đồng thuận, hiệp nhất và gần gũi giữa vợ chồng.

Sau cùng, ngoại tình và vợ chồng không gần gũi nhau là những lý do dẫn đến ly dị của những cuộc hôn nhân dù đã lâu năm. Nó xảy ra đối với những cặp vợ chồng kết hôn từ 9 năm hoặc lâu hơn.

Tuổi Trung Bình Ly Dị:

Tuổi trung bình của những cặp ly dị lần đầu là 30 tuổi. Khoảng 60% những cặp vợ chồng ly dị ở tuổi từ 25 đến 39. Phụ nữ thường khởi động ly dị nhiều hơn nam giới. Trong một phân tích phổ biến trên American Psychology Association cho biết tiếp:

Mặc dù có giảm ở tuổi 20 và 30, ly dị vẫn còn là một vấn đề thông thường của tuổi trẻ, trung bình 2/3 dưới tuổi 50. Tuy nhiên, xác suất ly dị ở những người tuổi từ 50 hoặc già hơn ngày lại tăng, gấp đôi giữa 1990 và 2010. Năm 1990, 8,7% những cuộc ly dị tại Hoa Kỳ xảy ra đối với những người 50 hoặc lớn tuổi hơn. Năm 2019, con số đã lên đến 36%. (Brown, S. L., & Lin, I., Journals of Gerontology: Social Sciences, Vol. 77, No. 9, 2022). [3]

Tình Yêu và Hy Sinh

          “Hãy đặt em như chiếc ấn trên trái tim anh,

           như chiếc ấn trên cánh tay anh.

           Vì, tình yêu mãnh liệt như tử thần”. 

             (Diễm Tình Ca 8:6)

Tuổi tác, thời gian kết hôn hoặc các yếu tố khác dẫn đến sự đổ vỡ của hôn nhân, tất cả đều bắt nguồn từ một lý do chính: “Thiếu vắng tình yêu”. Nói một cách khác, nếu có tình yêu, bạn có thể thắng vượt được tất cả mọi thử thách: “Vì, tình yêu mãnh liệt như sự chết!”.

Vì sự mãnh liệt của nó, tình yêu đòi hỏi phải hy sinh. Sau khi nghe lời khuyên và vợ chồng làm hòa lại với nhau, một chị đã nói với tôi: “Hòa thì hòa nhưng sao vẫn thấy đau! Tại sao lại phải xuống nước? Tại sao lại phải xin lỗi? Tại sao lại phải tha thứ?” Là vì cái tôi của mỗi người là kẻ thù nguy hiểm nhất, mạnh mẽ nhất, mà chỉ có sức mạnh của tình yêu mới thắng nổi. Trong 5 bước xây dựng tình yêu, theo Thánh Thomas Aquinas, bước sau cùng, cũng là bước quan trọng nhất và khó thực hành nhất, đó là hy sinh vì yêu. Yêu nhiều hy sinh nhiều! Chỉ có sức mạnh của tình yêu mới có khả năng làm nhẹ, đặt thấp cái tôi của mình xuống để chấp nhận, cảm thông, và chia sẻ với cái tôi của người mình yêu! Tuy nhiên, nó cũng không có nghĩa là đam mê mù quáng để những hy sinh của mình bị lợi dụng, bị chà đạp hoặc coi thường. Vì tình yêu mãnh liệt chứ không mùa quáng!

_______

Tài liệu tham khảo

1. https://www.google.com/search?client=firefox-b-1-d&q=the+reasons+for+divorce

2. https://www.forbes.com/advisor/legal/divorce/common-causes-divorce/

3. https://www.google.com/search?client=firefox-b-1-d&q=What+age+most+couples+divorce