Hiển thị các bài đăng có nhãn Vũ Văn An. Hiển thị tất cả bài đăng
Hiển thị các bài đăng có nhãn Vũ Văn An. Hiển thị tất cả bài đăng

Thứ Bảy, 15 tháng 8, 2020

Đạo đức học của việc phân phối thuốc chích ngừa Covid-19


Đạo  đức  học  của  việc  phân  phối  thuốc  chích  ngừa  Covid-19
Vũ Văn An-13/Aug/2020



Theo hai ký giả Kevin W. Wilde và Warren von Eschenbach của tạp chí America, Hiệp Hội Y Tế Công Giáo của Hoa Kỳ, ngày 27 tháng 7 vừa qua có công bố một hướng dẫn nhấn mạnh rằng “điều thiết yếu là phải xem xét một cách có suy nghĩ cách chế tạo hợp đạo đức và phân phối hợp công bằng” thuốc chích ngừa (vaccine) chống Covid-19.

Cũng theo hai ký giả trên, không hẳn ai ai cũng hoan nghinh thuốc chích ngừa, kể cả thuốc chích ngừa Covid-19. Ở Hoa Kỳ, có cả một khối thiểu số khăng khăng chống việc chích ngừa cộng với nhiều người khác không sẵn sàng chấp nhận các biện pháp đơn giản nhằm ngăn chặn việc truyền nhiễm virút. Họ không ý thức được rằng chương trình chích ngừa quan tâm đến sức khỏe của cộng đồng, nên phải được coi là quan trọng đối với bất cứ ai.

Con người, trong yếu tính, vốn là con vật có tính xã hội, phúc lợi của họ tùy thuộc một cộng đồng sinh động và mạnh khỏe. Ta thấy bằng chứng của điều này trong nỗi lo lắng và trầm cảm ảnh hưởng đến rất nhiều người trong thời gian bị cấm cửa để chặn đứng đại dịch. Phần lớn người ta thường chú trọng tới sức khỏe cá nhân, nhưng thuốc chích là điều chủ yếu đối với sức khỏe của cộng đồng, vì lợi ích của cộng đồng.

Nên khi có thuốc chích, ta nên phân phối nó ra sao? Câu trả lời tất nhiên là: mọi người nên nhận được nó. Nhưng căn cứ vào những đình trệ và những hàng nối đuôi thật dài để được xét nghiệm Covid-19, người ta có thể gặp rối loạn một khi có thuốc chích. Theo hai ký giả này, ta cần một chiến lược.

Ở các quốc gia tự do, người ta thường sử dụng phương thức thị trường để phân phối phần lớn các hàng hóa trong xã hội. Điều này có nghĩa: ai có khả năng và sẵn lòng trả nhiều tiền hơn cho một sản phẩm sẽ nhận được sản phẩm này trước hết. Nhưng thuốc thang, vì là một hàng hóa căn bản mà chúng ta cố gắng chế tạo cho mọi người, thực sự không nên phân phối kiểu đó.

Cho đến khi ta có đủ để phân phối tổng quát, việc ưu tiên hóa ai nhận được thuốc chích đòi phải có nỗ lực đồng hợp giữa các chính phủ và các viên chức y tế. Trung tâm Kiểm soát và Ngăn ngừa Bệnh tật (CDC) của Hoa Kỳ và một hội đồng cố vấn đã khai triển một kế hoạch sơ bộ để phân phối thuốc chích ngừa. Cũng cần có các thủ tục để bảo đảm việc tuân thủ của các nhà bào chế, của các cơ quan y tế tiểu bang và địa phương.

Theo khuyến cáo của CDC, điều quan trọng là bắt đầu phân phối thuốc chích cho những người có phản ứng dương tính (responders) và những người ở tuyến đầu chăm sóc y tế, vì cả hai loại người này đều là những người có nguy cơ nhất và đang phục vụ người khác cách tuyệt vời. Sau đó, để phục hồi kinh tế, ta nên nghĩ đến các công nhân không thể làm việc từ xa, như các công nhân trong các xưởng máy và kho chứa, họ là những người cung cấp các dịch vụ thiết yếu. Sau đó, ta nên ưu tiên cho các công nhân làm việc gần gũi số lượng người đông đảo, như các thầy cô giáo chẳng hạn. Rồi những người dễ mắc Covid-19 vì có những điều kiện tệ hại về sức khỏe và các vị cao niên. Một phương thức hiện đang gây tranh cãi là phân phối thuốc chích ưu tiên cho người da đen và nói tiếng Tây Ban Nha, vì họ là những người hiện có tỷ lệ nhiễm Covid-19 cao hơn.

Sau các ưu tiên trên, dĩ nhiên đến phần dân số tổng quát.

Tuy nhiên, trong việc phân phối vừa nói, nhất là ở Hoa Kỳ, sẽ có những người không muốn chích ngừa, y hệt như có những người từ chối đeo mặt nạ nơi công cộng, cho rằng họ muốn mọi người để mặc kệ họ. Nhưng ta nên nhớ rằng, như trên đã nói, sức khỏe công cộng không thể chỉ lưu tâm tới quyền cá nhân. Bạn không cần phải bị bệnh mới là người lây nhiễm Covid-19 cho người khác...

Chúng ta có thể tôn trọng việc tự do lựa chọn. Nhưng lựa chọn có các hậu quả của nó. Những người từ chối các biện pháp phòng ngừa, từ đeo mặt nạ tới chích ngừa khi có thuốc chích, không những tự chuốc lấy nguy hiểm mà còn gây nguy hiểm tới sức khỏe người khác. Việc chăm sóc sức khỏe không hoàn toàn rơi vào lãnh vực tác phong công cộng và tư riêng.

Hơn nữa, chúng ta không vô giới hạn trong việc cung cấp các dụng cụ y khoa như giường bệnh viện và máy thở, và chi phí chữa trị do nhiều người khác gánh vác hoặc trong cộng đồng hoặc trong các qũy bảo hiểm. Và những người ưu tiên nhận lãnh thuốc chích ngừa phải có nghĩa vụ đặc biệt; các công nhân thiết yếu nên được yêu cầu nhận chích ngừa hoặc mất việc.

Dù không nên bắt buộc mọi người phải chích ngừa Covid-19, nhưng ta nên qui trách nhiệm cho những người từ khước không phòng ngừa cần thiết về y khoa, nhất là những người từ khước thuốc chích ngừa. Thí dụ, điều thích đáng là không cho họ hưởng giường bệnh viện hay máy thở nếu họ mắc Covid-19 do hậu quả của việc cố ý dấn thân vào một tác phong nguy hiểm.

Trong khi đó, hướng dẫn của Hiệp Hội Y Tế Công Giáo Hoa Kỳ nhấn mạnh mấy điểm sau đây về việc chế tạo và phân phối thuốc chích ngừa Covid-19:

1.Các thuốc chích ngừa nên được chứng minh là an toàn và thử nghiệm một cách hợp đạo đức. Gánh nặng thử nghiệm không nên chủ yếu rơi xuống đầu người nghèo, hoặc những người ở các nước đang mở mang.

2. Các thuốc chích ngừa nên được chứng minh là hữu hiệu về phương diện khoa học. Không nên chấp nhận nó một cách quá nhanh chóng vì các lý do chính trị hay kinh tế.

3. Việc khai triển thuốc chích ngừa phải tôn trọng nhân phẩm và bảo vệ tính thánh thiêng của sự sống con người ở mọi giai đoạn.

4. Các thuốc chích ngừa nên được phân phối công bằng với ưu tiên dành cho những người có nguy cơ nhất trong việc chịu các hậu quả tiêu cực từ Covid-19.

5. Các cố gắng để khai triển và phân phối các thuốc chích ngừa hữu hiệu nên nhấn mạnh tới nguyên tắc liên đới – làm việc với nhau, quốc nội cũng như quốc tế, nhằm đạt một mục tiêu chung.

6. Nhất quán với nguyên tắc phụ đới, việc phân phối các thuốc chích ngừa hữu hiệu nên có sự can dự của các cộng đồng địa phương, bao gồm các chính quyền địa phương, các nhà cung cấp chăm sóc y tế, các tổ chức vô vị lợi và các nhà lãnh đạo tôn giáo.

Thứ Năm, 30 tháng 7, 2020

Trump và Biden đều cố gắng giành phiếu của Công Giáo


Trump  và  Biden  đều  cố  gắng  giành  phiếu  của  Công  Giáo
Vũ Văn An-29/Jul/2020



Chỉ còn hơn ba tháng nữa là đến ngày bầu cử 3 tháng 11, các chiến dịch của Tổng thống Donald Trump và cựu Phó Tổng thống Joe Biden đang nỗ lực thu hút cử tri Công Giáo, một khối cử tri trước đây vốn đáng tin cậy của Đảng Dân chủ nhưng gần đây đã được thả nổi để ai muốn nắm cũng được. Các chiến dịch và những người đại diện của họ nói rằng sự lựa chọn khá rõ nét, mỗi bên đều làm nổi bật các vấn đề được họ tin sẽ thu hút các loại cử tri Công Giáo của họ: những người được động viên chủ yếu bởi chủ đề phá thai và những người nhìn thấy trong bốn năm qua việc bỏ rơi những người bị hắt hủi nhất của xã hội.

Ông Biden thường xuyên đề cập tới đức tin của mình khi nói chuyện với cử tri, nhất là trong các cuộc bầu cử sơ bộ ở các tiểu bang. Chiến dịch của ông cho đến nay đã ve vãn các cử tri được động viên bởi đức tin của họ bằng cách chèn ngôn ngữ “giá trị” vào các bài nói chuyện nhằm vào đoàn ngũ những người có truyền thống ủng hộ Đảng dân chủ, như phụ nữ, người nói tiếng Tây Ban Nha và đồng tính luyến ái cùng thay đổi phái tính. Chiến dịch của Ông Biden cũng có kế hoạch công bố một nhóm người Công Giáo nổi tiếng tán thành cựu phó tổng thống vào cuối mùa hè này. Trong khi đó, chiến dịch tranh cử của Ông đã phát động chiến dịch trực tuyến “Các Tín Hữu Bầu Cho Biden”, bao gồm các cuộc trò chuyện ảo với nhân viên chiến dịch và các buổi cầu nguyện và suy niệm hàng tuần.

Chiến dịch Biden gần đây đã thuê một giám đốc kết nối đức tin, đặc biệt nhắm các cử tri Do Thái giáo, Hồi giáo và cả các cử tri Tin Lành có khuynh hướng Cộng Hòa, nhưng họ đang tìm cách để toàn bộ sứ điệp của ông Biden thấm nhiễm ngôn ngữ đức tin và các giá trị. Thí dụ, một quảng cáo cho chiến dịch Biden đã đăng hình một linh mục đang đứng trong một căn phòng bệnh viện. Đặc biệt đối với các cử tri Công Giáo, John McCarthy, một nhân viên của chiến dịch Biden, cho biết câu chuyện bản thân của ông Biden, cũng như chủ đề của chiến dịch, sẽ nói trực tiếp với các cử tri có đức tin.

Trong một cuộc phỏng vấn qua điện thoại với tạp chí America, Ông McCarthy nói “Cốt lõi của đạo Công Giáo là sứ điệp dạy rằng chúng ta phải lưu tâm đến người lân cận. Khi chúng ta đang hướng về cuộc tổng tuyển cử, nước Mỹ phải trả lời câu hỏi chúng ta là ai. Đối với người Công Giáo, và đối với các cử tri có đức tin, câu hỏi đặt ra là chúng ta có lưu tâm đến nhau, có coi người khác như chính chúng ta hay không? Nếu họ hỏi câu hỏi ấy, các cử tri này cuối cùng sẽ đứng cùng chiến tuyến với Phó Tổng thống Biden, người suốt đời dấn thân cho các vấn đề cốt lõi của Giáo huấn Xã hội Công Giáo”.

Michael Wear, người làm việc trong chiến dịch kết nối đức tin cho cựu Tổng thống Barack Obama, đã chỉ trích các nỗ lực của đảng Dân chủ trong việc bắt tay với các cử tri có đức tin, đặc biệt trong cuộc bầu cử năm 2016. Năm 2008, ứng cử viên Barack Obama khi đó đã công bố một Hội đồng Cố vấn Công Giáo Quốc gia vào tháng 4 nhưng năm 2016, chiến dịch của Hillary Clinton đã không tổ chức một nhóm lãnh đạo Công Giáo. Ông Wear cho biết ông thấy có dấu hiệu cho thấy chiến dịch Biden đang coi trọng hơn việc kết nối đức tin này.

Ông Wear nói rằng “Điều quan trọng nhất cần phải có là lời mời rõ ràng gửi đến các cử tri tôn giáo, cho họ hay Joe Biden muốn lá phiếu của họ. Điều này cần phải rõ ràng. Phó tổng thống không cần thường xuyên tổ chức các biến cố đức tin, nhưng điều mà chúng ta mong có là một hoặc hai biến cố chủ chốt trong đó đức tin chiếm vị trí trung tâm”...

Trong khi đó, chiến dịch tranh cử của Ông Trump đã hồi sinh chiến dịch Người Công Giáo Bầu cho Trump, một chiến dịch khởi đầu hơi trục trặc vào đầu năm nay. Chiến dịch đã cho công bố một cuốn video hồi tháng Năm, gồm những cuộc đàm thoại với một số thành viên của nhóm, bao gồm cả chuyên gia chính trị Mary Matalin và các nhà hoạt động bảo thủ Matt và Mercedes Schlapp, sau khi một vụ phát động trực tiếp bị hủy bỏ hồi tháng 3 vì đại dịch. Biến cố này, giả thiết được tổ chức tại Wisconsin, đã bị ít nhất một giám mục Công Giáo chỉ trích; vị này không muốn Giáo Hội định chế liên lụy đến cuộc tụ tập.

Một thành viên khác của Người Công Giáo Bầu cho Trump, người có tham dự biến cố trên YouTube, nói rằng bà ủng hộ việc tái cử của tổng thống vì quan điểm của ông về phá thai, một vấn đề theo bà “cho thấy trái tim và tâm hồn của một ứng cử viên và là một lộ trình dẫn đến các chủ trương khác của họ”.

Kristan Hawkins, người lãnh đạo phong trào Sinh viên Phò sinh, viết trong một email gửi tạp chí America “Giống mọi cử tri, người Công Giáo có nhiều quan tâm về một số vấn đề và đặc biệt các vấn đề có ảnh hưởng đến những người dễ bị tổn thương nhất. Tuy nhiên, trước tiên mọi người cần được chào đời. Không có điều này, tất cả các cuộc trò chuyện khác đều vô nghĩa đối với những người bị vứt bỏ trước khi họ có cơ hội sống”.

Một số nhóm chính trị Công Giáo và nhân vật truyền thông không liên hệ chính thức với chiến dịch này cũng đã lên tiếng ủng hộ tổng thống. Tổ chức Catholic Vote có trụ sở tại Michigan đã sử dụng phương tiện truyền thông xã hội và thư từ trực tiếp để đưa ra quan điểm cho rằng ông Trump tốt đối với các cử tri Công Giáo, nhấn mạnh việc chống đối phá thai của ông. Raymond Arroyo, một người dẫn chương trình trò chuyện của kênh truyền hình Công Giáo có ảnh hưởng là EWTN, đã phỏng vấn ông Trump vào tháng 6, đùa dỡn với ông Trump và khen ngợi quy mô đám đông biểu tình ủng hộ ông. Ông Arroyo cũng là người đóng góp cho Fox News, nơi ông thường xuyên đặt nghi vấn về việc ông Biden thích đáng trở thành tổng thống.

Theo phân tích gần đây của Frank Newport, một nhà khoa học chính trị tại Gallup, người Công Giáo chiếm khoảng 23 phần trăm cử tri. Nhưng ông Newport lưu ý rằng việc chỉ là thành viên của cùng một đức tin có thể không mang lại lợi thế cho ông Biden, vì “thiếu bằng chứng cho thấy người Công Giáo, bằng bất cứ cách nào, bỏ phiếu như một khối hoặc tôn giáo của họ làm họ khác với mọi cử tri khác”. Người Công Giáo phản ảnh gần y hệt sự phân cực rõ nét tìm thấy nơi dân số Hoa Kỳ nói chung. Các cuộc thăm dò gần đây cho thấy người Công Giáo ít nhiều chia rẽ khi nói đến hai ứng cử viên, mặc dù như năm 2016, sự chia rẽ rõ ràng là giữa người Công Giáo nói tiếng Tây Ban Nha, những người vốn chủ yếu ủng hộ ông Biden, và người Công Giáo da trắng với đa số có kế hoạch ủng hộ tổng thống.

Lịch sử riêng của ông Trump với các nhà lãnh đạo Công Giáo hơi phức tạp. Trong nhiều năm qua, ông đã có một vài chuyến viếng thăm Đức Hồng Y Timothy Dolan của New York, người đầu mùa xuân này đã ca ngợi sự lãnh đạo của tổng thống trong một cuộc điện đàm kiểu tranh cử giữa một số nhà lãnh đạo trường Công Giáo và Nhà Trắng, và sau đó một lần nữa trong cuộc xuất hiện trên Fox News.

Nhưng tổng thống cũng đã nhận được sự chỉ trích của các nhà lãnh đạo Công Giáo, kể cả của Đức Giáo Hoàng, người đã mặc nhiên chỉ trích quan điểm cứng rắn của ông Trump về vấn đề nhập cư. Trong cao điểm các cuộc biểu tình đòi công lý chủng tộc vào đầu mùa hè này, tổng thống đã bị tổng giám mục Washington, D.C., Wilton Gregory, lên án từ vì đã chính trị hóa đức tin tôn giáo.

Tổng thống cũng đã ca ngợi sự ủng hộ của một vị tổng giám mục gây tranh cãi người Ý, người đã kêu gọi Đức Giáo Hoàng từ chức; điều này đã khiến một số nhà bình luận Công Giáo đặt nghi vấn về việc liệu tổng thống có hiểu thấu các cử tri Công Giáo hay không.

David Gibson, người lãnh đạo Trung tâm Tôn giáo và Văn hóa của Đại học Fordham, nói với The Tablet hồi tháng trước “Ông Trump đang ở trên địa thế nguy hiểm với người Công Giáo da trắng. Những người Công Giáo ủng hộ ông có thể không yêu mến Đức Phanxicô, nhưng nếu họ thấy tổng thống [có vẻ như đang tấn công] Đức Giáo Hoàng thì chắc họ không vui”.

Một số nhóm Công Giáo tin rằng ông Biden có thể tìm được đường len lỏi vào các cử tri Công Giáo đang ngày càng e dè đối với phong cách của ông Trump, hy vọng rằng các cử tri này sẽ xem xét tính toàn bộ của giáo huấn xã hội Công Giáo khi đưa ra quyết định sẽ ủng hộ ứng cử viên nào.

Simone Campbell, một Nữ Tu Phục vụ Xã hội, đang điều hành Mạng lưới Vận động Công bằng Xã hội. Bà nói rằng bà thường xuyên nhận được các điện thư của những người Công Giáo “lo âu” trước ý tưởng bỏ phiếu cho một ứng cử viên ủng hộ quyền phá thai nhưng lại cảm thấy bị ông Trump làm cho mất hứng.

Nữ tu Campbell nói rằng “đây là đạo đức học nhất quán về sự sống”. Nhóm của bà có kế hoạch công bố bảng điểm cho hai ứng cử viên vào cuối mùa hè này, chấm điểm họ về các vấn đề mà theo bà cũng quan trọng không kém đối với cả chính nghĩa phò sinh lẫn phá thai, như biến đổi khí hậu, chăm sóc sức khỏe và quyền của người lao động.

Nữ tu Campbell nói rằng “Donald Trump đã làm mọi cách để hạ nhục và làm tổn thương người nhập cư, và làm tổn thương trẻ em nhân danh Thiên Chúa. Ông đã làm mọi điều có thể quan niệm được để làm giảm tiền lương và phẩm giá của người lao động”; bà nói thêm: mối quan tâm đối với người dễ bị tổn thương “có trong máu của Joe Biden”.

Tuy nhiên, một vấn đề chắc chắn sẽ ám ảnh ông Biden khi ông tìm kiếm phiếu bầu Công Giáo là phá thai. Năm ngoái, một linh mục ở Nam Carolina nói rằng ngài đã không cho ông Biden rước lễ vì ông ủng hộ quyền phá thai; điều này có lẽ báo hiệu việc trở lại với “cuộc chiến rước lễ” năm 2004, khi John Kerry, một ứng cử viên tổng thống Công Giáo của Đảng Dân chủ, phải đối đầu vụ đề kháng tương tự từ một số nhà lãnh đạo Giáo Hội. (Năm ngoái, Đức Hồng Y Dolan nói ngài sẽ không bác bỏ việc Ông Biden rước lễ).

Trong khi vốn đã ủng hộ việc phá thai hợp pháp hóa, thì gần đây cựu phó tổng thống còn thay đổi quan điểm đối với Tu Chính Án Hyde nữa, một chính sách trước đây vốn được cả hai đảng ủng hộ nhằm ngăn cản việc lấy tiền dân đóng thuế tài trợ cho các vụ phá thai. Ông bảo nay ông chống lại chính sách đó.

Chiến dịch tranh cử của Ông Trump thường xuyên nêu bật việc ông phản đối phá thai như là lý do tại sao ông xứng đáng nhận được sự ủng hộ của người Công Giáo và người Thệ Phản Phúc âm. Người đứng đầu gây tranh cãi của phong trào Linh mục Phò Sự sống, Cha Frank Pavone, đã ủng hộ ông Trump năm 2016 và một lần nữa trong thời gian này. Ngài đã từng làm cố vấn cho chiến dịch tranh cử của Ông Trump, nhưng gần đây đã từ chức, vì các linh mục thường không được khuyến khích hoạt động chính trị đảng phái. Tuy nhiên, trong tuyên bố ngày 27 tháng 7, ngài nói, “tôi kêu gọi mọi đồng bào của tôi, những người ủng hộ các nguyên tắc phò sinh và bảo thủ gạt sang một bên, bao nhiêu có thể, mọi sinh hoạt khác và biến thành ưu tiên hàng đầu của họ, như tôi sẽ làm, việc tái bầu Tổng thống Trump, việc dành cho ông một Hạ viện và một Thượng viện Cộng hòa, và việc bầu những người Cộng hòa ở cấp tiểu bang và địa phương”.

Một số đảng viên Dân chủ đang thúc giục đảng của họ làm dịu lập trường của mình về phá thai để gửi tín hiệu cho cử tri phò sinh rằng họ là một khối cử tri quan trọng. Nhóm Dân chủ Phò sinh của Hoa Kỳ đã gửi một lá thư tới các viên chức của Đảng Dân chủ vào ngày 24 tháng 7, yêu cầu họ “đưa ra các chính sách nhằm bảo vệ cả phụ nữ lẫn trẻ em” khi họ soạn thảo cương lĩnh của họ, với hy vọng một số cử tri phò sinh bị ông Trump làm phiền có thể thoải mái hơn khi bỏ phiếu cho ông Biden.

Đối với việc tạo ra những biến cố tranh cử để chứng tỏ tầm quan trọng của đức tin, như chiến lược gia Dân chủ, ông Wear, vốn gợi ý như là điều rất quan trọng đối với chiến dịch Biden, nhiều khả thể từ nay đến ngày 3 tháng 11 vẫn còn đó, nhưng ít nhất một khả thể đã trở thành nạn nhân của đại dịch đang tiếp diễn.

Thực thế, hôm thứ Hai, Đại học Notre Dame tuyên bố họ sẽ không tổ chức cuộc tranh luận tổng thống đã được lên kế hoạch vào ngày 29 tháng 9, với lý do lo ngại về an toàn do coronavirus gây ra. Điều này khiến ông Biden không có dịp nói về đức tin của mình tại một trong những khuôn viên đại học Công Giáo nổi tiếng nhất quốc gia.

Nguyên bản: How Trump and Biden are courting Catholic voters (
https://www.americamagazine.org/politics-society/2020/07/28/trump-biden-catholic-vote? )

Thứ Ba, 28 tháng 7, 2020

Joe Biden và Nhân tố Công Giáo

Joe  Biden  và  Nhân  tố  Công Giáo

Vũ Văn An-27/Jul/2020

 


Frank Newport, nhà khoa học hàng đầu của viện Gallup, trên trang mạng của viện này vừa có bài viết về nhân tố Công Giáo trong các cuộc bầu cử tổng thống Hoa Kỳ trong viễn tượng Joe Biden có thể được bầu làm ứng cử viên tranh chức Tổng thống Hoa kỳ vào tháng 11 này. Nguyên văn xin xem tại https://news.gallup.com/opinion/polling-matters/247676/joe-biden-catholic-factor.aspx

 

Joe Biden sẽ là người Công Giáo thứ tư được một đảng lớn chỉ định tranh chức tổng thống trong lịch sử Hoa Kỳ, sau John Kerry năm 2004, John F. Kennedy năm 1960 – vị tổng thống Công Giáo duy nhất của quốc gia - và Thống đốc New York Al Smith, ứng cử viên Dân chủ năm 1928.

 

Biden là phó tổng thống Công Giáo đầu tiên và duy nhất trong lịch sử Hoa Kỳ, mặc dù phó tổng thống hiện tại, Mike Pence, được nuôi dạy trong đạo Công Giáo (hiện ông là một tín đồ Tin Lành ngoan đạo). Đã có một số ứng cử viên phó tổng thống Công Giáo trong những năm qua, bao gồm Tim Kaine, ứng cử viên phó tổng thống của đảng Dân chủ năm 2016.

 

Thiển nghĩ công bằng mà nói, tôn giáo của một ứng cử viên tổng thống, hiện nay, ít còn là một nhân tố như trước đây - kể cả cuộc bầu cử tổng thống thứ tư của quốc gia năm 1800 khi các nhà phê bình chê trách sự thiếu xác tín tôn giáo tích cực của Thomas Jefferson. Nhưng có một số cách khả hữu trong đó, tư cách Công Giáo của ông Biden, ít nhất về mặt lý thuyết, có thể ảnh hưởng đến cuộc đua – trong đó có tác động tiềm tàng của nó đối với những người không Công Giáo (như trường hợp các ứng cử viên Smith và Kennedy) và tác động tiềm tàng của nó đối với những người đồng đạo Công Giáo của ông, vào khoảng một phần tư cử tri của quốc gia.

 

Là người Công Giáo không còn là vấn đề đối với hầu hết người Mỹ

 

Cả tư cách Công Giáo của Al Smith lẫn của John F. Kennedy đều trở thành những vấn đề lớn trong các chiến dịch tranh cử tổng thống của họ chủ yếu dựa trên mối lo ngại rằng tôn giáo của một tổng thống Công Giáo sẽ can dự vào việc thực thi một cách trung lập các nhiệm vụ tổng thống của họ. Smith đã buộc phải đưa ra một câu trả lời bằng văn bản nổi tiếng cho các nhà phê bình, những người cho rằng ông sẽ trung thành với Vatican hơn là với nhân dân Hoa Kỳ - bao gồm cả những cáo buộc cho rằng ông sẽ xây một đường hầm từ Nhà Trắng đến Vatican. Kennedy cũng đã đối đầu với cùng những lời chỉ trích như vậy, những chỉ trích ông đã giúp xua tan trong một bài phát biểu nổi tiếng vào tháng 10 năm 1960 trước Greater Houston Ministerial Association, đề cập tới các lo ngại cho rằng ông sẽ chia sẻ lòng trung thành giữa Giáo Hội và đất nước của mình nếu được bầu: "Trái với cách sử dụng thông thường của báo chí, tôi không phải là ứng cử viên Công Giáo tranh chức tổng thống. Tôi là ứng cử viên tổng thống của Đảng Dân chủ, một người cũng tình cờ là người Công Giáo. Tôi không nói cho Giáo Hội của tôi về các vấn đề công cộng, và Giáo Hội không nói cho tôi".

 

Chúng ta không có việc thăm dò dư luận có hệ thống vào năm 1928 khi Smith tranh cử, vì vậy chúng ta không có cách đo lường định lượng sự quan tâm về việc một người Công Giáo làm tổng thống trong cuộc bầu cử đó. Tuy nhiên, bắt đầu từ năm 1937, Gallup bắt đầu hỏi người Mỹ liệu họ có bầu cho một người có tư cách rất tốt về các phương diện khác, nhưng tình cờ theo đạo Công Giáo làm tổng thống hay không, một điều biến việc này thành một trong các xu hướng lâu dài nhất của Gallup. Năm 1937, 30% người Mỹ cho biết họ sẽ không bỏ phiếu cho người Công Giáo, tỷ lệ này tăng lên tới 33% vào năm 1940. Cuối năm 1959, ngay trước chiến dịch của Kennedy, 25% vẫn nói rằng họ sẽ không bỏ phiếu cho một người Công Giáo, một tỷ lệ đủ cao giúp chúng ta hiểu lý do tại sao Kennedy phải đề cập đến vấn đề này.

 

Trong các năm sau cuộc bầu cử Kennedy, sự phản đối của công chúng đối với một tổng thống Công Giáo bắt đầu suy giảm, tụt xuống còn 13% sau vài tháng kể từ khi ông nhậm chức và giảm xuống còn một con số (digit) vào năm 1967, gần bằng mức mà nó sẽ ở mãi từ đó đến nay.

 

Do đó, vào năm 2003, một năm trước khi Kerry được đảng của mình đề cử, chỉ có 5% người Mỹ nói rằng họ sẽ không bỏ phiếu cho một người Công Giáo. Năm nay, khi Biden chuẩn bị chấp nhận sự đề cử của đảng Dân chủ, tỷ lệ cũng tương tự như thế: 4% cho biết họ sẽ không bỏ phiếu cho một người Công Giáo trong cuộc thăm dò cập nhật vào tháng 1 năm 2020 của Gallup. So sánh ra, 18% người Mỹ nói rằng họ sẽ không bỏ phiếu cho một Kitô hữu tin lành dù có tư cách cao về các phương diện khác làm tổng thống, 32% sẽ không bỏ phiếu cho một người Hồi giáo và 38% sẽ không bỏ phiếu cho một người vô thần.

 

Tư cách Công Giáo của Biden, theo lý thuyết, có thể là một điểm cộng hoặc một điểm trừ nơi những người Công Giáo

 

Thông thường, chúng ta nghĩ tới các khía cạnh nhân khẩu học, địa lý hoặc bản thân khác của ứng cử viên như một điểm cộng tiềm tàng nơi các cử tri lưu ý các khía cạnh này. Một ứng cử viên từ một tiểu bang đặc thù được cho là có thể kiếm phiếu của tiểu bang đó, một ứng cử viên phụ nữ được cho là có đường thuận lợi kiếm phiếu của cử tri phụ nữ, và một ứng cử viên da đen hoặc nói tiếng Tây Ban Nha có lẽ sẽ gia tăng số phiếu bầu nơi các cử tri da đen hoặc nói tiếng Tây Ban Nha. Chắc chắn, là người Công Giáo, Biden ở vào vị trí lý thuyết có thể thu hút người Công Giáo, nhóm tôn giáo đơn nhất lớn nhất ở Mỹ. Đồng thời, như chúng ta đã thấy với việc ứng cử của Kerry năm 2004, có thể có việc tôn giáo của Biden là một điều tiêu cực đối với một số người Công Giáo cảm thấy ông không "Công Giáo đủ".

 

Người Công Giáo chiếm khoảng 23% dân số trưởng thành - và theo các cuộc thăm dò ý kiến ngay sau khi bỏ phiếu (exit poll) năm 2016, khoảng 23% tổng số cử tri trên toàn quốc. Thêm vào đó, các mẫu theo dõi quốc gia rất lớn của Gallup từ vài năm trước cho thấy người Công Giáo có đại diện trên trung bình ở một vài tiểu bang chủ chốt đang dao động (swing states) - bao gồm New Mexico, New Hampshire, Wisconsin và Pennsylvania.

 

Nhưng thách thức đối với một ứng cử viên Công Giáo như Biden là việc thiếu bằng chứng cho thấy người Công Giáo bỏ phiếu bất cứ cách nào như một khối hoặc tôn giáo của họ làm họ khác biệt so với mọi cử tri khác. Trong thực tế, phát hiện đáng chú ý trong kỷ nguyên này là mức độ trong đó người Công Giáo phản ảnh gần như y hệt mức trung bình quốc gia của các chỉ số chính trị. Điều này khác biệt đáng kể so với các nhóm tôn giáo khác, là những nhóm có xu hướng chính trị rõ ràng hơn nhiều - bao gồm Tin Lành và Mặc Môn, những người ngả theo Đảng Cộng hòa, và người Do Thái, Hồi giáo, và "những người không thống thuộc tôn giáo nào", những người ngả theo Đảng Dân Chủ.

 

Các dữ kiện được Gallup tổng hợp từ các cuộc điều tra thực hiện đến tháng 7 năm nay cho thấy 49% người Công Giáo xác định đồng nhất hóa hoặc nghiêng về Đảng Dân chủ, trong khi 43% đồng nhất hóa hoặc nghiêng về Đảng Cộng hòa. Các tỷ lệ này ít khác biệt so với bản sắc chính trị của dân số trưởng thành nói chung. Tương tự như thế, trong sáu tháng đầu năm, 45% người Công Giáo chấp thuận việc làm của Tổng thống Donald Trump, giống hệt với mức trung bình quốc gia. Việc đánh giá tán thành Trump đã giảm gần đây, nhưng sự tương đồng giữa người Công Giáo và dân số quốc gia vẫn được duy trì; 37% người Công Giáo tán thành Trump trong hai cuộc thăm dò cuối cùng của Gallup, gần giống hệt mức trung bình quốc gia là 39%.

 

Đúng như hầu hết mọi nhóm tôn giáo ở Hoa Kỳ, xu hướng chính trị của người Công Giáo khác về cường độ trong lòng đạo của họ. Những người Công Giáo ngoan đạo – tức những người đi nhà thờ hàng tháng hoặc thường xuyên hơn – có xu hướng ngả theo Đảng Cộng hòa nhiều hơn và có nhiều xác suất tán thành Trump hơn những người đi nhà thờ ít thường xuyên hơn. Phân tích của Gallup năm 2004 cho thấy người Công Giáo ngoan đạo có nhiều khả năng ủng hộ Bush hơn Kerry so với người Công Giáo không ngoan đạo.

 

Sự khác biệt đáng kể khác bên trong cộng đồng Công Giáo ở Hoa Kỳ ngày nay là sắc tộc - với khoảng một phần ba người Công Giáo trong dữ kiện của Gallup tự xác định là người nói tiếng Tây Ban Nha. Trong số những người không nói tiếng Tây Ban Nha, người Công Giáo da trắng (có rất ít người Công Giáo da đen), 56% đồng nhất hóa với hoặc ngả theo Đảng Cộng hòa, với 39% tự đồng nhất hóa hoặc ngả theo đảng Dân chủ. Một lần nữa, điều không ngạc nhiên là điều này gần giống hệt với việc đồng nhất hóa về chính trị của mọi người Mỹ da trắng không nói tiếng Tây Ban Nha cho đến nay. Ngược lại, người Công Giáo nói tiếng Tây Ban Nha ngả theo đảng Dân chủ, với 62% trong dữ kiện của Gallup tự đồng nhất hóa với hoặc nghiêng về phía Đảng Dân chủ, gần bằng 58% tổng số người Mỹ nói tiếng Tây Ban Nha.

 

Do đó, Biden có một lợi thế tích tụ nơi những người Công Giáo không đi nhà thờ thường xuyên và là những người Mỹ nói tiếng Tây Ban Nha, cả hai đều có xu hướng trổi vượt ngả theo đảng Dân chủ. Biden phải đối mặt với các thách thức lớn nhất của ông nơi những người Công Giáo da trắng, không nói tiếng Tây Ban Nha và nơi những người Công Giáo ngoan đạo, vì cả hai nhóm đều ngả theo đảng Cộng hòa hơn về chính trị và có nhiều xác suất tán thành việc làm của Trump trong tư cách tổng thống - một chỉ số cho thấy rõ xu hướng bỏ phiếu cho ông ta vào mùa thu này.

 

Làm thế nào để Biden có khả năng sử dụng dây nối kết Công Giáo của ông để gia tăng tỷ lệ phiếu bầu của những người Công Giáo nói tiếng Tây Ban Nha ít hoạt động hơn, và / hoặc thuyết phục những người Công Giáo Da Trắng chịu bỏ phiếu cho ông? Điều đó không rõ ràng, nhất là vì có bằng chứng cho thấy bản sắc chính trị trong môi trường ngày nay có thể mạnh hơn hoặc chủ yếu hơn so với bản sắc tôn giáo.

 

Thêm vào đó, như trường hợp Kerry năm 2004, Biden có thể phải đối mặt với sự phản kháng từ các cử tri Công Giáo dựa trên quan điểm của ông về phá thai. Biden ủng hộ quyền phá thai, một chủ trương liên tiếp bị Vatican phản đối. Trước đó trong sự nghiệp chính trị của mình, Biden đã ủng hộ nhiều hơn chủ trương chính thức của Công Giáo về phá thai. Như Jeff Jones của Gallup đã kết luận trong một phân tích năm 2004 về triển vọng làm tổng thống của Kerry: "Trong khi việc có một tổng thống là thành viên của Giáo Hội mình có thể là điều hấp dẫn đối với người Công Giáo, nhưng việc này có thể đòi phải bỏ phiếu cho một ứng cử viên có quan điểm về các vấn đề không trùng hợp với quan điểm của chính họ."

 

Biden đã nhận được nhiều chỉ trích từ hàng giáo phẩm Công Giáo về chủ trương phá thai của ông, bao gồm quyết định công khai năm 2008 của vị giám mục ở Scranton, Pennsylvania, quê hương của Biden, rằng ông không được phép rước lễ vì lập trường phá thai, và việc từ chối của một linh mục ở Nam Carolina, hồi năm ngoái, cho ông rước lễ.

 

Cần lưu ý rằng người Công Giáo, nói chung, không có xác suất cao hơn mức trung bình trong việc phản đối phá thai, hoặc nói rằng phá thai sẽ là một yếu tố quan trọng trong lá phiếu bầu tổng thống của họ. Do đó, quan điểm của Biden về vấn đề này có thể là một nhân tố tiêu cực, nhưng chỉ đối với những người Công Giáo có lòng đạo cao độ, những người vốn chống phá thai nhiều hơn. Không có xác suất để dựa vào tôn giáo chung mà hy vọng nhóm này sẽ ủng hộ Biden do lập trường phá thai của ông ta – ngoài ra, còn có sự kiện là nhóm này luôn ngả theo đảng Cộng hòa.

 

Nhìn chung, dường như tư cách Công Giáo của Biden sẽ không phải là một nhân tố quan trọng trong cuộc bầu cử - theo cả hai hướng. Không giống như các cuộc bầu cử năm 1928 và 1960, dường như có rất ít sự phản đối đối với việc ứng cử của ông chỉ vì ông là người Công Giáo. Và, mặc dù chúng ta không có câu hỏi trực tiếp hỏi người Công Giáo xem họ có xác suất bỏ phiếu cho một ứng cử viên nhiều hơn vì ứng cử viên này có chung tôn giáo với họ, nhưng hiện có rất ít bằng chứng cho thấy điều này. Người Công Giáo là một nhóm lớn, tản mạn. Những người Công Giáo tích cực cao độ có nhiều khả năng là những người ủng hộ Trump và có xu hướng không chia sẻ quan điểm của Biden về vấn đề nóng bỏng phá thai. Những người Công Giáo nói tiếng Tây Ban Nha và ít hoạt động hơn ngả theo đảng Dân chủ nhiều hơn, điều này tốt cho Biden, nhưng không rõ tư cách Công Giáo của ông có gia tăng sự nhiệt tình của họ đối với việc ứng cử của ông hay gia tăng xác suất họ sẽ đi bỏ phiếu và bỏ phiếu cho ông hay không.


Thứ Ba, 28 tháng 4, 2020

Phải gửi người đàn bà Công Giáo loại sứ điệp nào



Phải  gửi  người  đàn  bà  Công  Giáo  loại  sứ  điệp  nào
Vũ Văn An-09/Mar/2020


Mấy năm gần đây, người ta hay nói về vai trò của người đàn bà trong Giáo Hội theo chiều hướng quyền hành, nhưng Carries Gress (xem https://www.ncregister.com/blog/cgress/have-we-been-doing-catholic-womens-messaging-wrong) cho rằng điều ấy hình như chẳng ăn nhằm gì tới nền văn hóa nữ giới Công Giáo và do đó không nói lên được chút nào căn tính của họ và cũng không kéo họ ra khỏi nền văn hóa chết chóc đang ngự trị trong thời đại ta.

Theo tác giả này, một trong những cách vươn tới người phụ nữ là xem xem họ dành nhiều thời gian xem và đọc ở đâu. Phần lớn phụ nữ khi nói tới truyền hình, không lưu ý tới các đài hay chương trình tin tức cho bằng các hệ thống như HGTV (chỉnh trang và buôn bán nhà cửa) hay Food Network (ăn uống). Tác giả khám phá ra sự kiện này nhân những ngày nằm bệnh viện sinh đứa con thứ năm. Các y tá tại bệnh viện xác nhận: mọi phụ nữ ở đây đều chỉ coi một trong hai đài đó.

Một định mức khác là các tạp chí. Dù không sinh lời như trước đây, các tạp chí vẫn được in ấn trong khi gần như mọi hình thức truyền thông khác đều đã lên trực tuyến cả. Phụ nữ, kể cả phụ nữ Công Giáo, vẫn tiếp tục thích lần giở các trang tạp chí bất chấp các nội dung và quảng cáo thường không mấy làm họ hài lòng.

Nói về nội dung, tác giả cho rằng một trong các ý kiến trổi vượt mà tác giả nhận được khi muốn thông tri cho các phụ nữ là chúng ta sẽ không bao giờ có khả năng đánh bại được điều tác giả gọi là mẫu quyền [matriarchy] bằng chính các ngôn từ của họ. Đây là nhóm các phụ nữ ưu tuyển chuyên thông tri cho việc gửi các sứ điệp phò phá thai, phò cách mạng tình dục núp đàng sau chính trị, kỹ nghệ thời trang, Hollywood, xuất bản sách, học thuật và các tạp chí. Với hàng tỷ bạc mặc tình chi tiêu, nhóm mẫu quyền này phần lớn kiểm soát được cách phần lớn phụ nữ, kể cả phụ nữ Công Giáo, suy nghĩ.

Đó là lý do tại sao, mặc dù chúng ta hết sức cố gắng, các con gái của chúng ta vẫn thường từ bỏ đức tin khi bước vào đại học. Ảnh hưởng của nhóm mẫu quyền đơn thuần có tính mạnh mẽ trong khi ảnh hưởng của Giáo Hội thì quá yếu ớt. Thành thử, tác giả được người ta cho hay chúng ta không thể cạnh tranh với tiền bạc và ảnh hưởng của họ được.

Tuy nhiên, điều ngạc nhiên là nhiều người Công Giáo vẫn không sợ trong việc cố gắng giao tiếp với chủ nghĩa duy nữ triệt để ngay trong chính các điều kiện của nó bằng cách cố tái sáng chế một thứ duy nữ có thể làm hài lòng cả những người duy nữ thế tục kiên trì nhất. Trong khi đưa ra nhiều đóng góp đối với yếu tính của phụ nữ tính, các cố gắng này đã đưa tới hậu quả phân duy nữ thành nhiều trường phái đếm không xuể.

Tác giả cho rằng dù đã cẩn thận không muốn dấn bước theo nền văn hóa thế tục, nhưng chúng ta lại không e ngại ủng hộ và tái định nghĩa ý thức hệ duy nữ. Thay vì tiến bước bên trong truyền thống trí thức của riêng mình, chúng ta lại o bế ngôn từ, ý niệm và tiền đề của họ, để mong cạnh tranh với họ. Chúng ta tiếp nhận ý thức hệ của họ để mong biến cải nó, nhưng hậu quả thuần lại là biến chúng ta thành một thứ đàn ông đàn bà lúng túng, hoàn toàn mơ hồ không biết phụ nữ là ai.

Hậu quả ấy thấy rõ, theo tác giả, ở chỗ “chúng ta không có các nhà chuyên môn về lối sống Công Giáo nổi tiếng, chúng ta không có cả một tạp chí phụ nữ Công Giáo nổi tiếng”.

Giải thích hiện tượng trên, có người cho một là vì không có đủ các người Công Giáo tài trợ cho các dự án ấy hai là vì người Công Giáo không chịu chi tiền cho các món chuyên biệt được giới thiệu với họ. Nhưng theo tác giả, có đến gần 35 triệu phụ nữ Công Giáo tại Hoa Kỳ, chiếm tới 20-25 phần trăm dân số cả nước. Trong khi dân số LGBT chỉ chiếm khoảng 3 phần trăm, nhưng họ gần như có mặt khắp nơi trong nền văn hóa Hoa Kỳ. Sự vô hình của người Công Giáo Hoa Kỳ không hẳn chỉ vì nhóm mẫu quyền không ưa họ, mà còn vì “chúng ta chưa nhìn ra giá trị của việc nối vòng tay lớn với nền văn hóa rộng lớn hơn kia bằng việc chuyển sứ điệp của chúng ta một cách hiểu biết và thuyết phục”.

Tác giả nói rằng chúng ta ủng hộ nhiều vẻ đẹp trong các chân lý ngàn xưa của đức tin, nhưng xem ra chùn bước trước ý nghĩ trình bầy các ý niệm của chúng ta “vừa như cũ nhưng lại vừa như rất mới”. Nghịch lý thay, Giáo Hội, định chế vốn hết lòng hỗ trợ nghệ thuật trong lịch sử thế giới nhưng lại có những giới chạy quanh nó bằng việc phát sứ điệp và các phương tiện truyền thông của thế giới thế tục.

Theo tác giả, hiện chúng ta có rất nhiều sách vở, viện, và mạng tin tức nhắm vào đàn ông, thay vì phục vụ các quan tâm của phụ nữ Công Giáo. Một số người nhận xét rất đúng rằng nội dung Công Giáo phần lớn “do đàn ông nói với đàn ông về đàn bà” thay vì được thúc đẩy bởi những điều thực sự có thể lôi cuốn phụ nữ như các vấn đề thực tiễn (nhà cửa, nấu nướng, thực phẩm, thời trang, du lịch, thẩm mỹ và liên hệ).

Dĩ nhiên, phụ nữ không chỉ quan tâm đến những chuyện trên, nhưng đó là những chuyện nẩy sinh óc sáng tạo, và lôi kéo sự chú ý của chúng ta. Có rất nhiều bằng chứng cho thấy sức mạnh của các ý niệm ấy khi nhìn vào lý do tại sao ta đã đánh mất nền văn hóa: không phải vì phụ nữ đọc Karl Marx và Margaret Sanger, mà vì họ đọc Cosmo, xem Oprah, nghe Madonna và Beyoncé. Đó là những loại gửi sứ điệp đã bão hòa nền văn hóa của chúng ta bằng các dối trá mà hầu hết chúng ta đã tiến tới chỗ tin rằng con cái là một trở ngại cho hạnh phúc của chúng ta và tự do đích thực nằm ở chỗ có một nghề nghiệp.

Tác giả nhận định rằng phụ nữ Công Giáo có một sứ điệp đáng lưu ý để chia sẻ, một sứ điệp cần phải vượt quá các bức tường học thuật và bước vào chính dòng truyền thông phổ quát hơn. Các nghiên cứu tiếp tục chứng minh rằng họ là những người đàn bà hạnh phúc nhất trên hành tinh. Họ có điều phần lớn các phụ nữ đều khát mong đó là cuộc sống có ý nghĩa, có gia đình, có những người chồng trung tín, có một đức tin sâu sắc giúp chúng ta vượt qua các thăng trầm của đời người. Đó là các sứ điệp mà các phụ nữ thế tục và Công Giáo cần được nghe, thế nhưng về phương diện văn hóa rất ít chỗ họ tìm thấy chúng.

Chúng ta đang tranh đấu chống nền văn hóa chết chóc, một nền văn hóa thường mô tả chúng ta như những tấm lau chân đặt ở cửa ra vào. Không có gì có thể dẹp bỏ bức tranh biếm họa này bằng nền văn hóa sinh động hóa trình bầy joie de vie (niềm vui sống) vốn là của chúng ta. Thay vì luôn luôn chơi trò phòng thủ chống các mệnh lệnh của nhóm mẫu quyền, chúng ta có thể tiến qua thế tấn công bằng cách cho mọi người thấy sự phong phú của đức tin ta và sự bình an cùng niềm vui phát xuất từ một cuộc sống gắn bó với đức tin này.

Tác giả cho rằng cho tới khi người Công Giáo bắt đầu thực sự bắt tay vào việc nối vòng tay lớn với phụ nữ một cách vừa thuyết phục vừa dễ cập nhật đối với họ, nền văn hóa vẫn y nguyên như hiện nay. Tỷ lệ phá thai vẫn chóng mặt. Tình trạng không thoải mái với phái tính (gender dysphoria) vẫn tiếp diễn. Chúng ta có thể tiếp tục cố gắng tăng cường phòng thủ thị thành ta bằng thành lũy, pháo đài, và đủ loại phòng thủ, nhưng cho tới khi ta có thể ngăn ngừa các thối rữa và tật bệnh đi vào bằng cửa sau giống như các đại dịch ngày xưa, nền văn hóa chết chóc vẫn tiếp tục thống trị.

Cho đến khi ta có thể tìm được các cách thức mới để với tới người phụ nữ và giúp họ nhìn ra ý thức hệ chết chóc đang rao bán cho họ hàng ngày như sự thật và ánh sáng, sự mơ hồ lẫn lộn về Giáo Hội, giáo huấn của Giáo Hội và sức mạnh Giáo Hội vốn có để biến đổi đời sống mọi người đàn bà, sẽ vẫn còn đó.

Chủ Nhật, 29 tháng 3, 2020

23 Dấu hiệu lạc quan về COVID-19




23  Dấu  hiệu  lạc  quan  về  COVID-19
Vũ Văn An-25/Mar/2020



Tiểu Bang Washington của Hoa Kỳ là một trong các tiểu bang bị ảnh hưởng nhiều nhất của COVID-19 và cũng là nơi thử nghiệm lần đầu vắc-xin chống COVID-19 vào người. Có thể vì thế mà nữ ký giả Christina Ausley của SeatllePI.com nhìn thấy có tất cả 23 dấu hiệu cho phép người ta thoáng thấy ánh sáng ở cuối đường hầm COVID-19.

Nữ ký giả này cho hay tin tức về COVID-19 thật là đáng sợ, ai cũng biết như thế. Các hàng tít lớn tiếp tục cho ta các tin tức không vui liên quan đến loại vi khuẩn khiếp đảm này để chúng ta có thể áp dụng các biện pháp an toàn tân tiến nhất để bảo vệ chính chúng ta và những người chung quanh chúng ta.

Tuy nhiên, bà cho hay, có năm đầu ngón tay tin tức hoàn cầu thoáng cho thấy một vài tia hy vọng giữa thời khiếp đảm và điều này quan trọng không kém.

1.Trong số 80,000 người mắc COVID-19 ở Trung Hoa, hơn 70% đã phục hồi và đã ra khỏi các bệnh viện.
Đó là nguyên văn tuyên bố của Cơ Quan Y Tế Liên HIệp Quốc tuần rồi.

2.Các khoa học gia đã mường tượng được loại vi khuẩn mới này xâm nhập vào tế bào con người ra sao, một điều sẽ giúp rất nhiều việc khai triển cách điều trị nó.
Theo Live Science, sau khi các khoa học gia tiết lộ hình ảnh đầu tiên cho thấy loại vi khuẩn mới bám vào các tế bào hô hấp của con người và tạo ra các vi khuẩn mới ra sao, các nhà nghiên cứu tại Trung Hoa đã làm đông đặc các hình ảnh này tới mức nguyên tử ở chỗ bám vào. Với tin vui này, việc hiểu được cách loại vi khuẩn này xâm nhập vào các tế bào sẽ giúp các nhà nghiên cứu tim ra loại thuốc và vắc-xin để đánh bại chúng.

3.Nhờ mức độ tự cách ly cao, Codogno, một trong hai trung tâm của vi khuẩn corona ở Ý vừa tường trình đã giảm đáng kể các trường hợp lây nhiễm hàng ngày.
Theo U.S. News and World Report, so với 35 trường hợp mỗi ngày khi bắt đầu bùng phát, chỉ có năm ca nhiễm mới được công bố vào tuần trước bởi thị trưởng của Codogno, Francesco Passerini. Ông Passerini nói: “Đây là một cuộc chiến tranh. Nó là một cuộc chiến tranh, nhưng chúng ta có mọi khả năng để chiến thắng. Khác với các bậc cha ông của chúng ta, những người đã thực sự chiến đấu cho tự do của chúng ta, chúng ta đang được yêu cầu thể hiện trách nhiệm - trách nhiệm và bình tĩnh”.

4. Các nhà khoa học ở Canada đã tạo ra những bước đột phá lớn trong nỗ lực phát triển vắc-xin
Một nhóm các nhà khoa học Canada cuối cùng đã phân lập và phát triển các bản sao của vi khuẩn corona, một điều nay đang có thể giúp các nhà khoa học nghiên cứu mầm bệnh để khai triển việc thử nghiệm, phương pháp điều trị, vắc-xin tốt hơn và hiểu rõ hơn về sinh học của nó, nhóm nghiên cứu nói như thế trong một tuyên bố với New York Post.

5. Trung Quốc đang thử nghiệm năm giải pháp vắc-xin khác nhau, tuyên bố họ có thể có vắc-xin sẵn sàng vào tháng tới
Theo South China Morning Post, tám viện nghiên cứu khác nhau ở Trung Quốc đang nghiên cứu năm cách chủng ngừa khác nhau để chống lại vi khuẩn corona mới. Ông Zhong Zhongwei, Giám đốc Trung tâm Phát triển Khoa học và Kỹ Thuật của Ủy ban Y tế Quốc gia, cho biết “theo ước tính của chúng tôi, chúng tôi hy vọng rằng vào tháng 4, một số vắc-xin sẽ được đưa vào nghiên cứu lâm sàng hoặc được sử dụng trong các tình huống cấp cứu”. Tờ New York Post nhận định rằng, mặc dù đúng là sẽ mất ít nhất 12 đến 18 tháng để cung cấp vắc-xin an toàn cho công chúng nói chung, theo luật pháp Trung Quốc, chúng có thể được phát hành sớm hơn để sử dụng khẩn cấp trong trường hợp cấp cứu y tế công cộng, miễn là các lợi ích phải vượt trội so với các rủi ro.

6. Các thử nghiệm chích ngừa ở Hoa Kỳ đã được tiến hành
Một thử nghiệm vắc-xin của Moderna đã được bắt đầu tại Kaiser Permanente thuộc Viện nghiên cứu sức khỏe của Tiểu bang Washington ở Seattle, nơi hy vọng sẽ xác nhận sự an toàn của vắc-xin trước khi sản xuất hàng loạt.

7. Một nhóm các chuyên gia về bệnh truyền nhiễm đã tính toán tỷ lệ tử vong do sự bùng phát của vi khuẩn corona Vũ Hán gây ra là khoảng 1.4%, thấp hơn nhiều so với các ước tính trước đó
Mặc dù ước tính và dữ kiện này áp dụng trực tiếp cho Vũ Hán, nơi bắt đầu bùng phát loại vi khuẩn corona mới, nó cung cấp một hướng dẫn đầy hy vọng cho các nơi khác trên thế giới vì nó ghi nhận một ước tính thấp hơn đáng kể so với số thống kê 3% trước đó. Một phân tích đầy đủ các dữ kiện có thể được tìm thấy tại Stat News.

8. Các nhà máy sản xuất rượu trên khắp Hoa Kỳ đang tự chế tạo chất khử trùng tay và tặng miễn phí
Theo Associated Press, có lẽ nhiều người Mỹ sẽ bình tĩnh trở lại, không hốt hoảng tích trữ hàng hóa, vì các nhà máy sản xuất rượu trên khắp đất nước đang sử dụng rượu có độ bền cao để làm thuốc khử trùng tay và phân phối miễn phí, hoặc muốn quyên tăng tùy ý để chống lại vi khuẩn corona mới.



9. Ô nhiễm không khí đã giảm mạnh tại các thành phố có số lượng cao các cá nhân bị cách ly, nước của Venice đang rất sạch
Các nhà phân tích của tờ Washington Post đã ghi nhận sự sụt giảm đáng kể khí thải khắp châu Âu nhờ việc các cá nhân tự kiểm dịch và xe hơi đậu ở nhà. Mặc dù rất ít an ủi đối với một quốc gia bị tàn phá bởi tân vi khuẩn corona, nhưng việc này làm nổi bật tác động của con người đối với môi trường. Emanuele Massetti, một chuyên gia về khía cạnh kinh tế của việc biến đổi khí hậu tại Đại học Georgia Tech, người đã nghiên cứu chính sách khí hậu của Ý, nói với tờ Washington Post: "Tôi hy vọng ô nhiễm sẽ giảm hơn nữa khi các hạt trong khí quyển bị phân tán hoặc hấp thụ. Trong một vài ngày, người ta sẽ được tận hưởng không khí sạch nhất từ trước đến nay ở miền bắc nước Ý".

10. Một nhà nghiên cứu của Đại học Johns Hopkins đã tuyên bố các kháng thể từ các bệnh nhân của vi khuẩn corona đã phục hồi có thể giúp bảo vệ những người có nguy cơ
Một phương pháp điều trị có thể có sẵn trong các trường hợp khẩn cấp, một nhóm của Đại học Johns Hopkins cùng với nhiều nhà nghiên cứu khác đang nghiên cứu xem liệu các kháng thể của những người được chữa khỏi vi khuẩn corona có thể giúp bảo vệ những người có nguy cơ khỏi bị vi khuẩn hay không. Nhà miễn dịch học Arturo Casadevall nói với tờ Science Alert: "Việc triển khai giải pháp này không cần nghiên cứu hay phát triển. Nó có thể được triển khai trong vòng một vài tuần vì nó phụ thuộc các thực hành của ngân hàng máu bình thường". Chưa kể, một công ty dược phẩm Nhật Bản đang gần đến chỗ phê duyệt phương pháp điều trị.

11. Tỷ phục hồi của Nam Hàn đang bắt đầu cao hơn tỷ lệ các trường hợp lây nhiễm mới
Theo tờ India Today, đối đầu với dịch bệnh lớn nhất bên ngoài Trung Quốc, Nam Hàn đã báo cáo nhiều vụ phục hồi khỏi vi khuẩn corona hơn các trường hợp lây nhiễm mới, vào thứ Sáu, lần đầu tiên kể từ khi dịch bệnh xuất hiện vào tháng 1, khi xu hướng suy giảm trong các trường hợp hàng ngày làm người ta tăng hy vọng rằng dịch bệnh lớn nhất châu Á bên ngoài Trung Quốc có thể đang dừng lại.

12. Trung Quốc đang đứng vững trở lại khi cho mở công viên và các phương tiện thể thao, nới lỏng các hạn chế đi lại
Khi loại vi khuẩn corona mới được kiểm soát ở Trung Quốc, các công viên và địa điểm du lịch đã mở cửa trở lại trên khắp đất nước, cùng với các hạn chế du lịch được nới lỏng. Tờ South China Morning Post cho biết: "Ủy ban Y tế Quốc gia cho biết hôm thứ Năm rằng vụ bạo phát đã vượt qua cực điểm của nó và các số liệu dường như ủng hộ tuyên bố của họ. Vào thứ Sáu, chính quyền ở Trung Quốc đại lục tường trình chỉ có 11 trường hợp Covid-19 mới, trong đó bốn trường hợp ở Hồ Bắc". Theo ESPN, ngay cả bóng rổ chuyên nghiệp cũng đã tái xuất ở châu Á.

13. Trung Quốc cũng đã đóng cửa bệnh viện coronavirus cuối cùng, không đủ bệnh nhân mới để tiếp tục mở cửa
Trung Quốc đã đóng cửa tất cả 16 bệnh viện vi khuẩn corona tạm thời ở Vũ Hán khi các trường hợp nhiễm vi khuẩn này đã bắt đầu suy giảm. Theo hãng tin Tân Hoa Xã, "Nhóm cuối cùng gồm 49 bệnh nhân đã bước ra khỏi bệnh viện tạm thời Vũ Xương ở thủ phủ của tỉnh Hồ Bắc vào chiều thứ ba giữa những tiếng cổ vũ".

14. Các nhà nghiên cứu Úc đang trong giai đoạn thử nghiệm hai loại thuốc chữa vi khuẩn.
Các nhà khoa học ở Úc tuyên bố đã nhận diện được cách hệ thống miễn dịch của cơ thể chiến đấu với tân vi khuẩn corona. Được công bố trên tạp chí Nature Medicine vào thứ ba, cuộc nghiên cứu cho thấy người ta đang phục hồi khỏi vi khuẩn giống như khỏi bệnh cúm vậy. Đồng tác giả nghiên cứu, giáo sư Kinda Kedzierska, nói với BBC News: "Khám phát này quan trọng vì đây là lần đầu tiên chúng ta thực sự hiểu hệ thống miễn dịch của chúng ta chiến đấu với vi khuẩn corona mới ra sao".

15. Nhiều doanh nghiệp đã đẩy mạnh việc giải quyết cuộc khủng hoảng
Các nhà hàng, thể thao và doanh nghiệp đều đang đẩy mạnh việc chống lại các hậu quả cộng đồng của tân vi khuẩn corona. Thế giới thể thao đang quyên tiền cho các nhân viên sân vận động, Uber Eats đang phân phối giao hàng miễn phí để giúp các nhà hàng độc lập, các cầu thủ bóng đá chuyên nghiệp đang giải trí cho người xem bằng một giải đấu FIFA, các nhà hàng đang dọn đồ ăn miễn phí cho những người cần, và Bill Gates đang tài trợ hàng triệu đô la để gia tăng tốc độ phát triển phương pháp điều trị vi khuẩn corona, đây mới chỉ là một vài trong số hàng tá điển hình.

16. Apple, Starbucks mở lại tất cả các cửa hàng tại Trung Quốc
Trong khi các cửa hàng và nhà hàng trên khắp Hoa Kỳ bị đóng cửa, cả Apple lẫn Starbucks đã mở lại tất cả các cửa hàng của họ ở Trung Quốc khi vi khuẩn corona mới lan truyền chậm lại trên cả nước.

17. Trung tâm Y Tế MetroHealth đã phát triển một xét nghiệm vi khuẩn corona đem lại kết quả sau vài giờ chứ không phải vài ngày
Tờ News 5 Cleveland cho hay, "Trung tâm y tế MetroHealth trở thành bệnh viện đầu tiên ở tiểu bang hiện có thể xét nghiệm các mẫu COVID-19 tại phòng thí nghiệm của họ với kết quả khả dụng chỉ sau hai giờ". Mặc dù nguồn cung hạn chế, nó lưu ý một bước quan trọng đối với việc xét nghiệm rộng rãi vi khuẩn corona mới.

18. Các nhà khoa học ở Israel cũng đã ghi nhận khả năng công bố sự phát triển ra vắc-xin vi khuẩn corona trong vòng vài tuần
Theo Bộ trưởng Khoa học và Thuật Ofir Akunis, các nhà khoa học Israel đang tiến hành việc phát triển ra loại vắc-xin đầu tiên để chống lại loại vi khuẩn corona mới. Theo một công bố báo chí, loại vắc-xin này có thể sẵn sàng trong vòng một vài tuần và có sẵn để sử dụng trong 90 ngày.

19. Một công ty kỹ thuật sinh học ở San Diego đang phát triển vắc-xin chống vi khuẩn corona với sự hợp tác của Đại học Duke và Đại học Quốc gia Singapore
Khi cuộc chạy đua để phát triển vắc-xin chống vi khuẩn corona mới tiếp tục diễn ra trên toàn thế giới, công ty kỹ thuật sinh học có trụ sở tại San Diego, Arcturus Therapeutics, đang nghiên cứu để tạo ra một loại tại phòng thí nghiệm của mình. Công ty đang hợp tác với Duke NUS-Medical School, một hùn hạp giữa Đại học Duke và Đại học Quốc gia Singapore. Chủ tịch và Giám đốc điều hành, Joseph Payne, nói với CBS8: Mặc dù việc phát triển một loại vắc-xin có hiệu quả chưa bị chứng minh là không thể, "Thách thức lớn với các vắc-xin là quy mô của liều lượng và tính khả thi của việc sản xuất".

20. Một loại thuốc cúm của Nhật Bản đã được chứng minh là có hiệu quả trong việc điều trị vi khuẩn corona mới
Theo tờ The Guardian, Zhang Xinmin, một viên chức của Bộ khoa học và kỹ thuật Trung Quốc, cho biết favipiravir, được phát triển bởi một công ty phụ của Fujifilm, đã tạo ra các kết quả đáng khích lệ trong các thử nghiệm lâm sàng ở Vũ Hán và Thẩm Quyến với 340 bệnh nhân. Ông Zhang Zhang nói với các phóng viên hôm thứ ba: “Đây là một mức độ an toàn cao và rõ ràng có hiệu quả trong việc điều trị”.

21. Trung Quốc báo cáo chỉ có một trường hợp nhiễm vi khuẩn corona mới trong nước trong ngày thứ hai liên tiếp.
Ủy ban Y tế Quốc gia cho biết "Trong ngày thứ hai liên tiếp, chỉ có thêm một vụ lây nhiễm mới ở Vũ Hán, thành phố trung tâm nơi vi khuẩn này xuất hiện lần đầu vào cuối năm ngoái". Tờ Daily Mail cho biết: các vụ mới ở xung quanh tỉnh Hồ Bắc hiện đã ở mức một con số (one digit) trong bảy ngày qua, giảm từ mức cao nhất vài nghìn người mỗi ngày vào đầu tháng Hai.

22. Các cộng đồng đang cùng nhau giúp đỡ hàng xóm của họ
Hàng xóm trên khắp đất nước đang đẩy mạnh việc mua tạp hóa cho những người không thể rời khỏi nhà của họ. Các dịch vụ địa phương cũng đã tiếp cận với cộng đồng Seattle để khuyến khích những người cần giúp đỡ, tận dụng các cơ hội có sẵn cho họ.

23. Một cụ bà Trung Quốc 103 tuổi đã hồi phục hoàn toàn từ COVID-19
Sau khi được điều trị chưa đầy một tuần, cụ bà này sẽ lãnh huy chương vàng như là bệnh nhân vi khuẩn corona sống lâu nhất đã phục hồi ở Trung Quốc và thúc đẩy người già hoàn cầu giữ vững hy vọng.

Thứ Hai, 31 tháng 12, 2018

Năm 2018, Đức Giáo Hoàng và việc cải cách liên quan đến lạm dụng tình dục và tiền bạc

Năm  2018,  Đức  Giáo  Hoàng  và  việc  cải  cách  liên  quan  đến  
lạm  dụng  tình  dục  và  tiền  bạc
Thứ bảy - 29/12/2018 
     




Tiếp tục loạt bài nhìn lại năm 2018 của Đức Phanxicô, nữ ký giả San Martín của tập san Crux cho rằng, từ lạm dụng tình dục đến tiền bạc, năm 2018 là năm thử thách của ngài về việc cải cách.

Khi được bầu vào chức vụ giáo hoàng hồi tháng 3 năm 2013, Đức Hồng Y Jorge Mario Bergoglio biết rằng mình được chọn vì sứ mệnh “cải cách”. Tuy nhiên, điều không rõ ràng là cải cách này có ý nghĩa gì đối với Đức Giáo Hoàng Phanxicô: phục hồi sinh lực cho hình ảnh công khai của Giáo hội, giải quyết cuộc khủng hoảng giáo sĩ lạm dụng tình dục hoàn cầu, cải tổ chính Vatican hay dẫn dắt người Công Giáo khắp thế giới vào một “cuộc hồi tâm mục vụ”.

Đức Phanxicô buộc phải giải quyết việc cải tổ trên nhiều mặt trận trong suốt 12 tháng qua, tất cả đều thử nghiệm ngài theo những cách khác nhau.

Lạm dụng tình dục

Đã qua rồi những ngày khi Đức Phanxicô được bầu làm người của năm bởi hầu hết các cơ sở tin tức lớn trên thế giới. Thực thế, lần đầu tiên từ khi ngài được bầu vào chức giáo hoàng năm 2013, tên tuổi ngài tạo được rất ít tiếng vang khi giải thưởng Nobel Hòa bình sắp diễn ra trong năm nay.

Điều ấy, ít nhất, một phần do năm 2018 là một năm trong đó Giáo hội có nhiều tiêu đề đáng tiếc, hầu hết xoay quanh cuộc khủng hoảng giáo sĩ lạm dụng tình dục: Phúc trình Pennsylvania; vụ cựu Hồng Y Theodore McCarrick, bị buộc tội lạm dụng tình dục ít nhất ba vị thành niên, ngoài ra, còn hàng chục chủng sinh nữa; Chile, nơi vụ từ chức tháng Năm của tất cả các giám mục chỉ là phần nổi của tảng băng; và Hồng Y người Úc George Pell, cựu thành viên của hội đồng cố vấn Hồng Y của Đức Giáo Hoàng, phải đương đầu với hai phiên xử về các vụ giáo sĩ lạm dụng tình dục đã có từ xưa.

Tất cả những vụ tai tiếng này có nghĩa: trong năm nay, phần lớn vốn liếng chính trị của Đức Giáo Hoàng từng thu lượm được trong bốn năm qua đã bị lãng phí. Chẳng hạn, những lời kêu gọi bảo vệ di dân và bảo vệ môi trường của ngài hầu như không được lưu ý.

Điều ấy đặc biệt hiển hiện trong chuyến đi của Đức Giáo Hoàng tới Ái Nhĩ Lan, nơi các tường trình của truyền thông nổi bật với điều nhiều người cho là đáp ứng không đồng đều hoặc trì hoãn của ngài đối với cuộc khủng hoảng lạm dụng. Lời buộc tội của một cựu sứ thần Tòa Thánh tại Hoa Kỳ trong ngày cuối cùng của chuyến đi đó đã đổ thêm dầu vào lửa, cho dù dư luận chia rẽ nhau về nhiều tuyên bố của Đức Tổng Giám Mục Carlo Maria Viganò.

Trong số những điều được nhắc đến, Viganò cho rằng mình đã thông báo cho vị giáo hoàng người Á Căn Đình về McCarrick vào năm 2013 và nói rằng vị giáo hoàng này không những không làm gì, mà còn bãi bỏ một loạt các biện pháp trừng phạt chống lại vị tổng giám mục đã nghỉ hưu của Washington.

Mặc dù có liên kết qua lại với mọi biến cố Công Giáo lớn trong năm nay, nhưng không có trường hợp nào khác cho thấy sự thúc đẩy cải cách của Đức Phanxicô hiển hiện bằng cuộc cải cách trong Giáo hội ở Chile.

Sau khi công khai đứng về phía một giám mục địa phương bị buộc tội che đậy trong ba năm - kể cả trong chuyến viếng thăm Chile vào tháng 1, khi ngài gọi những lời cáo buộc của những người sống sót là “vu khống”- Đức Phanxicô đã quay đủ 180 độ để đứng về phía những người sống sót của cựu linh mục Fernando Karadima, và cho vời ba nhóm người Chile đến Rôma và thẳng thừng cáo buộc các giám mục tội lạm dụng, che đậy, phá hủy bằng chứng và một danh sách dài các sai phạm khác.

Mọi giám mục Chile đã đệ đơn từ chức lên Đức Giáo Hoàng vào tháng Năm, sau một cuộc họp ba ngày tại Thành phố Vĩnh cửu. Cho đến nay, Đức Phanxicô đã chấp nhận bảy đơn từ chức trong số này, nhưng một vài vị khác cũng sẽ bị thải hồi, kể cả Đức Tổng Giám Mục của Santiago, Hồng Y Ricardo Ezzati, người ở tuổi 77 đã bị một công tố viên địa phương buộc tội che đậy.

Chile đã dẫn đến việc Đức Phanxicô mở rộng cái hiểu của ngài về cuộc khủng hoảng và phạm vi hoàn cầu của nó ra sao.

Giải quyết vấn đề ở bình diện hoàn vũ trở thành một ưu tiên. Đó là lý do tại sao ngài đã triệu tập mọi chủ tịch các hội đồng giám mục thế giới, cũng như những người đứng đầu các giáo hội phương Đông hiệp thông với Rôma, đến Vatican dự cuộc họp trong các ngày 21-24 / 2. Để chuẩn bị cho hội nghị này, các giáo phẩm tham dự đã được yêu cầu gặp gỡ các nạn nhân sống sót của các vụ giáo sĩ lạm dụng tình dục.

Trong bài phát biểu hàng năm của ngài với các thành viên của Giáo Triều, nghĩa là cơ quan cầm quyền của Giáo hội có trụ sở tại Rôma, đọc ngày 21 tháng 12, ngài hứa rằng Giáo hội sẽ không bao giờ che đậy những tội ác này nữa và cảnh cáo các thủ phạm phải sẵn sàng đối diện với cả công lý của con người và lẫn công lý của Thiên Chúa.

Mặc dù bài phát biểu của Đức Giáo Hoàng nhận được phản ứng lẫn lộn nơi các nạn nhân sống sót, nhưng lời khen ngợi của ngài dành cho các nhà báo đã giúp phát hiện ra những tội ác này trái ngược hoàn toàn với những bình luận của một số giáo phẩm cấp cao, mà một số vị đang kiện các phóng viên hoặc buộc tội truyền thông đã tạo ra cuộc khủng hoảng.

Cải cách Vatican

Khi được bầu vào chức vụ giáo hoàng vào năm 2013, Đức Phanxicô biết rằng một trong những tiền đề của sự hỗ trợ ngài là trực tiếp ý thức được nền hành chánh của Vatican rối loạn và chậm chạp xiết bao, và tâm lý của nó có tính ốc đảo và “vòng đai bên trong” như thế nào đối với những người ít có kinh nghiệm “dã chiến”.

Ngay sau khi đắc cử, ngài đã lập ra một nhóm gồm tám cố vấn Hồng Y để giúp ngài cải tổ Giáo triều Rôma. Trong năm 2018, cơ quan này, theo báo cáo, đã hoàn tất bản dự thảo đầu tiên của tân hiến pháp, để thay thế một bản được phê chuẩn trong thời giáo hoàng của Đức Gioan Phaolô II. Tuy nhiên, một số nguồn tin nói với Crux rằng sau hơn hai chục phiên họp, bản văn giống như một bài tập cắt dán hơn là một văn kiện thực sự.

Sau đó, ngài đã bổ sung Quốc Vụ Khanh, Hồng Y người Ý Pietro Parolin, nhưng năm nay, cơ chế trước đây được biết đến với cái tên C9 đã mất đi ba thành viên Hồng Y: Laurent Monsengwo, người Công Gô; Javier Errazuriz, người Chile, người từng bị buộc tội che đậy; và Pell, người cho đến nay vẫn tiếp tục, vì được phép vắng mặt, trong tư cách đứng đầu Văn Phòng Thư ký Kinh tế của Vatican.

Ngoài công việc đã được thực hiện bởi nhóm cố vấn Hồng Y, năm 2018 còn chứng kiến việc Đức Phanxicô bổ sung một số thành viên cho Giáo Triều, phần lớn trong số họ là người Ý, và trong một số trường hợp, các cuộc bổ nhiệm có liên quan đến các vụ tai tiếng.

Trong tất cả các cơ quan của Vatican, cơ quan có nhiều thay đổi nhất là Văn Phòng Thư ký Truyền thông, được thành lập vào năm 2015. Nó có thẩm quyền đối với tất cả các văn phòng truyền thông của Tòa Thánh và Thị Quốc Vatican, kể cả Hội đồng Giáo hoàng về Truyền thông Xã hội; Văn phòng Báo chí Tòa Thánh, đứng đầu là người Mỹ Greg Burke; Dịch vụ Internet Vatican; Tin tức Vatican; Trung tâm Truyền hình Vatican; và tờ báo Vatican L’Osservatore Romano.

Những thay đổi đối với cơ quan này bắt đầu bằng việc loại bỏ vị đứng đầu của nó, Đức ông Dario Edoardo Vigano, trong bối cảnh biên tập một bức thư của Đức Bênêđictô XVI liên quan đến một bộ sách thần học về Đức Phanxicô. Ngài được thay thế bởi một giáo dân người Ý, ông Paolo Ruffini, người tín hữu giáo dân đầu tiên đứng đầu một bộ của Vatican.

Vào ngày 18 tháng 12 năm 2018, Đức Phanxicô đã bổ nhiệm hai người Ý khác vào bộ phận này: người quan sát Vatican lâu năm Andrea Tornielli làm Giám đốc biên tập và Andrea Monda làm giám đốc của L’Osservatore Romano.

Hồi tâm mục vụ

12 tháng qua là một tàu lượn siêu tốc đối với Đức Phanxicô, nhưng hai điều vẫn không đổi ở đường chân trời, hiển hiện trong mọi chuyến đi của ngài, cả ở nước ngoài và trong nước Ý: người trẻ và đối thoại liên tôn như một phương thế của hòa bình.

Sự kiện năm 2018 sắp được dành sẵn để tập chú vào người trẻ được thấy rõ kể từ khi Đức Phanxicô tuyên bố sẽ tổ chức một Thượng hội đồng về vấn đề này, với hơn 300 giáo phẩm từ khắp nơi trên thế giới tập trung về Rôma để thảo luận việc làm cách nào Giáo hội có thể tiếp cận người trẻ tốt hơn và giúp họ biện phân ơn gọi của họ.

Vào tháng 7, Đức Phanxicô đã đến thăm thành phố Bari của Ý, một cửa ngõ giữa Công Giáo và Kitô giáo chính thống, và Đức Giáo Hoàng đã đón tiếp các nhà lãnh đạo của mọi cộng đồng Kitô giáo lớn có mặt ở Syria để cầu nguyện cho hòa bình và thảo luận về cách làm thế nào tôn giáo có thể hỗ trợ diễn trình hòa bình của một quốc gia từng bị chiến tranh trong tám năm qua.

Tuy nhiên, có lẽ bước đột phá lớn nhất khi nói đến cải cách và hồi tâm mục vụ là bước đột phá có âm sắc lớn về chính trị: thỏa thuận Vatican với Trung Quốc về việc bổ nhiệm các giám mục mới và Rôma chấp nhận một số vị được phong chức bất hợp pháp.

Mặc dù không tránh khỏi các tranh cãi, nhưng nhiều nhà phê bình đã định nghĩa thỏa thuận này như là việc Đức Phanxicô nhường bước trước ý chí của chính quyền Cộng sản, vì đối với Đức Giáo Hoàng, đây là cánh cửa để Giáo Hội Công Giáo có quyền tự do hơn để phục vụ cho hơn một tỷ linh hồn Trung Quốc.

Vũ Văn An
(vietcatholic 27.12.2019)