Hiển thị các bài đăng có nhãn Công giáo. Hiển thị tất cả bài đăng
Hiển thị các bài đăng có nhãn Công giáo. Hiển thị tất cả bài đăng

Thứ Tư, 3 tháng 7, 2024

CHÚA NHẬT XIV THƯỜNG NIÊN B

 

Suy niệm Tin Mừng Chúa Nhật XIV TN NB

Mon, 01/07/2024 -Lm Phạm Hồng Thái

 

CHÚA NHẬT XIV THƯỜNG NIÊN B

           Trong Cựu ước có nhiều tiên tri. Qua các thời kì Thiên Chúa gởi các tiên tri để họ thay mặt Chúa dạy dỗ dân chúng. Gọi là Tiên tri hay sứ ngôn là người được thay mặt Chúa để nói lại lời Chúa cho dân vì thế tiên tri phải là người xuất thân từ dân Israel và được Chúa chọn.

Chúa Giêsu cũng chính là vị Tiên tri của Thiên Chúa. Trước khi qua đời ông Mosê có để lại một lời trăn trối là “sau này Thiên Chúa sẽ cho xuất hiện một vị Tiên tri như tôi và còn trổi vượt hơn tôi để dạy dỗ dân Chúa”. Qua các thời kì người ta chờ mong vị tiên tri này đến và khi ông Gioan Tẩy giả xuất hiện rao giảng thì phái đoàn được giáo quyền ở Giêrusalem sai tới phỏng vấn ông để hỏi cho biết ông có phải là vị Tiên tri đó không? Ông Gioan đã từ chối danh hiệu này và ông chỉ nhận mình là tiếng kêu trong hoang địa như lời tiên tri Isaia nói để chuẩn bị cho Đấng Thiên sai Cứu thế và Đấng đó mới chính là vị Tiên tri mà ông Môsê đã loan báo trước.

Khi ra rao giảng Tin Mừng Chúa Giêsu đã chứng tỏ Chúa chính là  là vị Tiên tri đó khi Chúa nói: “Thánh thần Chúa ngự trên tôi vì Người xức dầu cho tôi sai tôi đi rao giảng Tin Mừng cho người nghèo khó…” Thế nhưng Chúa Giêsu không được dân thành Nazareth là quê hương Chúa đón nhận, ban đầu mới nghe thì họ thán phục vì Chúa giảng có uy quyền, giáo lí của Chúa mới lạ không như lời rao giảng của các kinh sư họ vẫn thường nghe. Nhưng khi nhìn lại họ thấy Chúa Giêsu cũng chỉ là người đồng hương, trước tới giờ làm nghề thợ mộc nghề của thánh Giuse nên phải đi đây đi đó để lo xây dựng nhà cửa cho người ta, họ còn nói ông này là con bà Maria và anh em chị em ông vẫn ở giữa chúng ta. Lời phản ảnh về Chúa Giêsu là con bà Maria và không nhắc tới thánh Giuse cho thấy khi đó thánh Giuse đã qua đời và anh chị em mà họ kể tên ra là anh chị em bà con họ hàng chứ không phải là anh chị em ruột vì Đức Mẹ chỉ có mình Chúa Giêsu là người con duy nhất nên khi đứng dưới chân Thánh Giá, Đức Mẹ đã phải nhận lời trối Chúa Giêsu trao cho môn đệ Gioan làm con Đức Mẹ.

Trước sự cứng lòng tin và phản ứng của những người đồng hương, Chúa Giêsu đã phải nói lên sự thật phũ phàng: “Không một tiên tri nào mà không bị khinh bỉ ở quê hương, gia đình họ hàng mình”. Người Việt nam chúng ta có câu nói tương tự: “Bụt nhà không thiêng” còn người Hi lạp thì nói: “Các triết gia khó sống tại quê hương mình”. Chúa Giêsu có lòng yêu mến quê hương và Chúa muốn đem ơn phúc cho bà con họ hàng nhưng họ cứng lòng tin, nên Chúa cũng  không làm nhiều phép lạ ở đó được. Sự kì thị của họ đã làm cản trở ơn Chúa ban cho họ. Nhưng sự từ chối tin nhận  Chúa Giêsu là vị Tiên tri và là Đấng Thiên sai Cứu thế của dân thành Nazareth còn báo hiệu sau này Chúa sẽ bị dân Israel chối từ khi họ đòi đóng đinh Chúa trên cây thập giá!

Nay chúng ta là những người tin kính Chúa Giêsu, chúng ta xưng ra Chúa là Vị Tiên tri Thiên Chúa ban cho nhân loại như lời ông Mosê báo trước: Chúa Giêsu chính là Mosê mới đến để giảng dạy lời Thiên Chúa cho chúng ta như chính Chúa đã quả quyết với các môn đệ: “những lời anh em nghe nói đây không phải của Thầy, nhưng là của Cha, Đấng đã sai Thầy (Ga 14, 24)”. Lời Chúa  là chân lí và là sự sống, chúng ta đón nhận lời Chúa là lương thực hằng ngày cùng với lương thực thiêng liêng nữa là Thánh thể Chúa. Người Do thái đã nhận ra  lời giảng và việc làm của Chúa Giêsu có uy quyền khiến ma quỉ phải khiếp sợ và phải vâng phục. Chúng ta dựa vào uy quyền và Lời Chúa để chống lại thế gian và ma quỉ. Nhờ Lời Chúa hướng dẫn  chúng ta đi trên đường ngay nẻo chính để chắc chắn về được nhà Cha chúng ta trên trời.

Câu chuyện: Phật tại nhà. Trong truyện cổ Trung hoa có kể rằng: Dương Phủ lúc còn nhỏ nhà nghèo, nhưng hết sức cấy cầy để phụng dưỡng cha mẹ. Một hôm ông nghe bên đất Thục có ông Võ Tề đại sư rất nổi tiếng, ông liền xin song thân đến tầm sư học đạo. Đi được nửa đường, ông gặp một vị lão tăng bảo ông rằng:  Được gặp Võ Tề đại sư, chẳng bằng gặp Phật.

Dương phủ hỏi: Phật ở đâu?

Lão tăng bảo rằng: ngươi cứ quay trở về, gặp người nào quấn vải trên người, đi dép ngược, là chính Đức Phật đó.

Dương phủ nghe lời quay về, đi đường chẳng gặp ai cả. Về tới nhà, đêm khuya, trời tối, ông gọi cửa. Mẹ ông nghe tiếng con mừng quá, chạy vội ra, quấn vội chiếc mền vào người, đi đôi dép ngược ra mở cửa cho ông. Bấy giờ ông nhìn kỹ, giống như hình dáng Đức Phật mà lão tăng đã mô tả.

Từ đó, ông mới hiểu ra rằng: Phật chẳng ở đâu xa, mà là chính cha mẹ ở trong nhà. Đúng như cha ông ta vẫn nói:

 “Tu đâu cho bằng tu nhà

Thờ cha kính mẹ mới là đạo con”.

Chúng ta có lòng thảo hiếu với cha mẹ chính là cách chúng ta thực hiện lời Chúa nhìn nhận Chúa Giêsu là vị Tiên tri của chúng ta. Amen

 

 

Thứ Ba, 25 tháng 6, 2024

Thánh ý Chúa trên mỗi con người - Sóng gió cuộc đời

 

Thánh ý Chúa trên mỗi con người - Sóng gió cuộc đời

Tác giả: 
 Lm Nguyễn Văn Độ

 

 

Thánh ý Chúa trên mỗi con người

SINH NHẬT GIOAN TẨY GIẢ

(Lc 1, 57 – 66.80)

 

Đọc lại cuộc đời của thánh thánh Gioan Tẩy Giả từ lúc sứ thần truyền tin cho ông Dacaria đến ngày cắt bì, đặt tên cho con trẻ là Gioan (x. Lc 1,60), chúng ta khám phá ra Thiên Chúa là Đấng Sáng Tạo, an bài và sắp đặt trên đời chúng ta.

 

Cuộc đời và ơn gọi của Gioan

“Chúa đã kêu gọi tôi từ khi tôi còn trong lòng mẹ, Người đã đặt tên cho tôi”(Is 49,1).

 

Lời Chúa trích sách tiên tri Isaia trên đây thật đúng với ơn gọi, cuộc đời và sứ mạng của nhân vật trọng đại của Thánh Kinh là Gioan Tẩy Giả, gạch nối giữa Cựu Ước và Tân Ước. Trong hàng ngũ các vị đại tiên tri và số những người công chính thì Gioan Tẩy Giả đã được Thiên Chúa quan phòng đặt để đi trước Đấng Thiên Sai, hầu sửa đường trước cho Ngài bằng rao giảng và làm chứng nhân cho Đấng Cứu Thế.

 

 “Trước khi tạo thành ngươi trong lòng mẹ, Ta đã biết ngươi, và trước khi ngươi ra khỏi lòng mẹ, Tha đã thánh hiến ngươi, Ta đã đặt ngươi làm tiên tri cho các dân tộc” (Gr 1,5).

 

Lời xác nhận trên trong ý nghĩa đầy đủ nhất nói về Chúa Kitô, nhưng trong một ý nghĩa rộng hơn cũng áp dụng vào trường hợp của Vi Tiền Hô đi trước Ngài. Cả hai đều được sinh ra do kết quả sự can thiệp từ Thiên Chúa: một Đấng được sinh ra bởi một Trinh Nữ, Đấng khác sinh ra bởi một bà lão hiếm muộn. Ngay cả khi còn trong lòng mẹ, Gioan đã chỉ điểm cho thấy Đấng sẽ mặc khải cho thế giới về chương trinh yêu thương của Thiên Chúa.

 

Cuộc đời của Gioan Tẩy Giả hoàn toàn được phác họa trước lúc sinh ra: “Hài nhi hỡi, con sẽ mang tước hiệu là ngôn sứ của Đấng Tối Cao, con sẽ đi trước Chúa mở lối cho Người” (Lc 1, 76). Tất cả những ơn gọi ấy làm nên một lịch sử cứu độ mà Thiên Chúa tác động trong lịch sử con người. “Dacaria, đừng sợ, vì lời ngươi cầu nguyện đã được nhậm rồi” (Lc 1,13). Đó là lời Sứ Thần nói với ông Dacaria. Ông đã được Chúa yêu thương và nhậm lời. Chúa đã can thiệp vào lịch sử cuộc đời và ơn gọi của Gioan nói riêng và của mỗi người chúng ta nói chung.

 

Hiện hữu trong sự quan phòng

 

Giáo lý Hội Thánh dạy: “Sau khi sáng tạo, Thiên Chúa không bỏ mặc các thụ tạo của Ngài. Ngài không chỉ ban cho chúng hữu thể và hiện hữu, Ngài còn luôn gìn giữ chúng hiện hữu, cho chúng khả năng hành động và đưa chúng đến cùng đích”. Sự gìn giữ, sắp xếp và tác động thúc đẩy các tạo vật để chúng đi đến cùng đích ấy được gọi là việc Thiên Chúa quan phòng. (x. SGLHTCG, số 301). Như vậy, theo Giáo lý của Hội Thánh thì Thiên Chúa không chỉ sáng tạo nên vạn vật rồi bỏ mặc chúng, mà Ngài còn quan tâm chăm sóc và điều hành chúng bằng ý định đầy quyền năng của Chúa.

 

Thánh Gioan Kim Khẩu viết: “Chúa lưu ý đến từng điều cho con người. Phần ta, ta không thêm được gì cho thân ta, nhưng Chúa quan phòng làm hoàn toàn đầy đủ mọi việc cho ta. Nếu không có Chúa quan phòng, thì mọi sự lo lắng vất vả của chúng ta đều vô ích”.

 

Thánh Basiliô dùng kiểu nói ví von: “Chúa cho bò ngựa có cỏ, thì lại cho con người có của cải sinh sống. Chúa tạo nên mọi thứ là dự bị cho con người có đủ thức ăn… Không có gì là không có lý do hay tình cờ, nhưng là kết quả của tài khôn ngoan vô cùng”.Thánh Augustinô thì đưa ra một nhận xét chí lý: “Thượng Đế không phải như một kỹ sư xây nhà xong có thể bỏ đấy đi, vì nếu Ngài ngơi tay ra thì tất cả vũ trụ sụp đổ”. Thánh nhân viết tiếp: “Sao tôi lại xin để Chúa ở trong tôi, trong khi tôi không thể tồn tại nếu Chúa không ở trong tôi?” Theo ngài, đúng hơn phải nói: “Tôi không thể tồn tại nếu tôi không ở trong Chúa, mà do đó, nhờ đó và trong đó tất cả mọi vật tồn tại”.

 

Gioan Tẩy là kiểu mẫu điển hình cho sự quan phòng của Thiên Chúa trong cuộc đời chúng ta. Thiên Chúa can thiệp cụ thể trong lịch sử đời người. Mang danh hiệu là Tiền hô của Đấng Cứu Thế, Gioan có sứ mạng “đem nhiều con cái Ítrael trở về cùng Chúa” (Lc 1, 16).  Gioan đã sống xứng danh người loan báo về Đấng Cứu Thế. Là Kitô hữu, chúng ta được Chúa tạo dựng và an bài trong ý định nhiệm mầu cao siêu của Thiên Chúa.

 

Thánh ý Chúa trên cuộc đời ta

 

“Từ trong thai mẫu tôi, Chúa là Đấng bảo vệ tôi” (Tvđc).

 

Hôm nay chúng ta có thể dùng câu của Thánh Vịnh này áp dụng vào chính chúng ta. Thiên Chúa biết và yêu thương chúng ta ngay cả trước khi chúng ta mở mắt chào đời để chiêm ngắm kỳ công của Chúa. Khi sinh ra, mỗi chúng ta nhận được một tên gọi trần gian. Nhưng ngay trước đó, mỗi người đã có một tên thánh : tên mà Thiên Chúa Cha biết và yêu thương từ thuở đời đời cho đến muôn thuở. Điều này đúng mọi người, không trừ một ai. Không ai là người vô danh trước nhan Thiên Chúa! Tất cả đều khác nhau, nhưng có giá trị bình đẳng, và tất cả đều được gọi là con cái của Thiên Chúa.

 

“Tên nó là Gioan” (Lc 1, 63). Trước sự bỡ ngơ và kinh ngạc của người thân và láng giềng, ông Dacaria xác nhận đây là tên con trai ông, khi ông viết tên đó lên bảng. Chính Thiên Chúa, qua trung gian thiên thần đã đặt tên đó cho Gioan, có nghĩa là: “Thiên Chúa có lòng từ tâm”. Thiên Chúa tốt lành với mọi người: Ngài muốn họ được sống; Ngài muốn họ được cứu chuộc, và trở nên sự chúc phúc cho toàn thể các quốc gia địa cầu. Thiên Chúa thương yêu nhân từ với nhân loại : Ngài hướng dân con cái Ngài trên con đường hành hương về đất hứa nơi mà hòa bình và công chính sẽ ngự trị. Tất cả nhưng điều này đều chứa trong tên của Gioan!

 

Lạy thánh Gioan Tẩy Giả, xin cầu cho chúng con. Amen.

 

Lm. An-tôn Nguyễn Văn Độ

 

***********

 

Sóng gió cuộc đời

SUY NIỆM CHUA NHẬT XII NAM - B

(Mc 4, 35 – 40)

 

Trong những năm gần đây, chúng ta được nghe rất nhiều  tin làm chấn động cả thế giới : những cơn  động đất, sóng thần, bão tố, liên tiếp sảy ra ở nhiều nơi trên thế giới làm chết rất nhiều người, phá hủy bao công trình phúc lợi công cộng. Những trận cuồng phong bão táp chúng ta có thể thấy bằng con mắt giác quan, còn có những trận cuồng phong vô hình đã và đang từng ngày đổ ập vào người ta như trường hợp của ông Gióp người đầy tớ của Thiên Chúa, sóng gió hữu hình đến với các môn đệ Chúa Giêsu, và chắc chắn có sóng gió của đời ta.

 

Sóng gió đến với ông Gióp

 

Vì ghen ghét với người tín trung với Thiên Chúa, ma quỷ đã tìm mọi cách để đến gần Thiên Chúa và xin được thử thách ông. Chúa đã cho phép ma quỉ toàn quyền, trừ sức mạnh của thần chết. Thế là bằng mọi cách, ma quỉ đã làm gió làm bão lên đời ông Gióp, khiên ông bị vợ bỏ, con chết, súc vật bị phân tán và ngay cả bản thân ông cũng bị bệnh phong cùi lỡ loét, phải ngồi trên đống phân tro ngoài đồng, còn cái cảnh nào bi đát hơn, chán nản hơn, tuyệt vọng hơn. Ma quỷ đã tấn công ông từ tứ phía, lợi dụng cả bạn bè đến để khích bác, chê bai vì đã dại dột tin tưởng vào Thiên Chúa. Trong cơn thất vọng, ông cũng đã có lần buông lời than trách. Vì thế, Chúa đã hiện ra trong cơn gió lốc và cật vấn ông : "Khi biển cả vỡ bờ chảy xiết, ai đã dùng cánh cửa mà ngăn" và chỉ một lời Chúa truyền, sóng cồn đã theo đà đứng nguyên tại chỗ (G 38, 1.8 -11). Bằng lời lẽ phân minh, Chúa đã tỏ cho ông Gióp thấy Ngài là Ðấng thống trị địa cầu, phàm ai trông cậy tin tưởng vào Chúa sẽ được Ngài ấp ủ yêu thương.

 

Sóng cả ba đào tạt thuyền các môn đệ

 

Tin Mừng Thánh Marcô thuật lại, Chúa Giêsu truyền các môn đệ rằng : "Chúng ta hãy sang bên kia biển hồ" (Mc 4, 35 ) mà không nói lý do như trong Tin Mừng Matthêu sang bờ bên kia vì "đám đông" (Mt 8, 18). Marcô còn ghi rõ : "Cũng có nhiều thuyền khác theo Người" (Mc 4, 36), nhưng không nói rõ liệu các thuyền kia có đi vào trung tâm của bão lớn hay không ? Chỉ biết rằng " Chợt có một cơn bão lớn và những lớp sóng ùa vào thuyền đến nỗi sắp đầy nước" (Mc 4, 37). Các môn đệ quả thực sợ hãi, sợ chết, có khi sợ Thầy đang ở trong thuyền của họ cũng chết nữa ! Cái chết thể xác không thể cưỡng lại nổi, nếu gió to sóng lớn đánh tan thuyền. Rồi các môn đệ than như một lời trách móc cay đắng "Mà Thầy không quan tâm đến sao ?" (Mc 4, 38)

 

Chúng ta tự hỏi : Chúa Giêsu đã làm gì trong lúc con thuyền vượt biển? Thưa : Người tận dụng thời giờ để nghỉ ngơi và ngủ. Nhưng không phải là Người vắng mặt. Tư tưởng của Người vượt trên chúng ta qua sự nhập thể làm người.

 

Sau một ngày giảng dạy, khi chiều đến Chúa Giêsu muốn tránh ra xa đám đông. Mệt mỏi, Người nghỉ ngơi đôi chút. Người ngủ trên chiếc thuyền của các môn đệ, dựa gối vào đàng lái mà ngủ. Chìm vào giấc ngủ, bão tố cuồng phong không thể nào làm người tỉnh giấc. Khiến các môn đệ phải hét vào tai đánh thức Người. Chúng ta đọc được những lời thật lo âu của các môn đệ: "Thưa Thầy, chúng con chết mất" (Mc 4, 38).  Người trỗi dậy.

 

Chúa Giêsu đã thức dậy, can thiệp đúng lúc và truyền cho gió bão : "Hãy im đi, hãy lặng đi" ( Mc 4, 39 ). Tức thì, gió bão im lặng. Các môn đệ cảm thấy nhẹ nhõm vì không còn hoang mang, sợ hai và lo lắng nữa. Biển lặng tượng trưng cho lòng con người được an bình, được yên lặng. Sau đó, Người đã quở các môn đệ rằng : "Sao các con sợ hãi thế, các con không có đức tin ư ?" (Mc 4, 40).

 

Chúng ta đặt mình vào trong tình huống này, cuồng phong nổi lên, sóng khiến nước ập vào thuyển, trong khi đó Chúa Giêsu vẫn ngủ. Một bên là gió rít sóng gào, bên kia là hơi thở nhẹ nhàng và đều đặn của Chúa Giêsu. Một bên là các môn đệ chạy lên chạy xuống kêu la hốt hoảng đến mất lòng tin. Bên kia là tư thế nghỉ ngơi bình an hoàn toàn thoải mái ngay ở đàng lái mạn thuyền của Chúa Giêsu. Như thế, ở giữa sức mạnh của phong ba bão táp, con thuyền được lèo lái, không phải bởi một sức mạnh lớn hơn, nhưng bằng một giấc ngủ ngon lành của Chúa Giêsu, vì Người là Thiên Chúa. Chúa Giêsu muốn là các môn đệ không được hoảng hốt, kêu la và đánh thức Thầy, với sự hiện diện của Thầy lẽ ra các ông phải yên tâm mới phải. Cứ để biển động, gió gào, sóng thét và nhất là cứ để Chúa Giêsu ngủ trong thuyền của các ông.

 

Con thuyền Giáo hội, thuyền của đời ta

 

Trong lịch sử, truyền thống Kitô giáo vẫn nhìn nhận con thuyền tròng trành vì bão tố, một hình ảnh của Giáo hội. Khi Marcô viết Tin Mừng, có lẽ Phêrô đã chịu tử đạo và giáo đoàn Rôma bị bách hại tàn bạo : "Chúng ta hãy sang bờ biên kia" (Mc 5, 35) có ý nghĩa. Mặc dù bão tố, Giáo hội phải sống và phát triển trong thế giới ngoại giáo này và không chỉ trong cộng đoàn Kitô giáo gốc Do thái mà thôi, nhưng còn từ thế kỷ này sang thế kỷ khác, khắp muôn dân trở về với Giáo hội Chúa. Và sự im lặng của Thiên Chúa hiển nhiên có thể làm chúng ta quên đi tình yêu biểu lộ cho nhân loại nơi Đức Giêsu Con Thiên Chúa làm người.

 

Đời người ai mà chẳng có lúc sóng gió. Có lúc sóng gió tấn công vào chiếc thuyền nhỏ trong thân phận mỏng manh của đời ta. Ðau khổ bệnh tật, thất bại, cô đơn, nghèo đói, hiểu lầm, ghen ghét, tai nạn, rủi ro đó là những bão táp của đưa đẩy cuộc đời. Ðứng trước những cơn phong ba ấy, chúng ta thường hốt hoảng, lo sợ và thậm trí có khi mất niềm tin. Thế nhưng khi nghe Lời Chúa hôm nay, chúng ta thấy đó chính là sứ điệp đầy hy vọng mời gọi ta hãy tin tưởng vào Chúa vì Người là Đấng quyền năng. Không những Chúa có thể dẹp yên sóng gió của biển động, mà còn đem lại sự bình an cho tất cả những ai luôn biết tin tưởng và gắn bó với Chúa. Niềm tin ấy không làm cho đau khổ biến đi. Nhưng sẽ biến đau khổ thành sức mạnh, giúp ta vượt thắng tất cả những thử thách cam go, sóng to, gió cả của cuộc đời. Ðể cuối cùng đạt đến hạng phúc nguồn cứu độ nơi bến bờ quê hương vĩnh cửu. Amen.

 

Lm. Antôn Nguyễn Văn Độ 

Chủ Nhật, 9 tháng 6, 2024

THÁNH TÂM CHÚA YÊU NHIỀU VÔ KỂ

 

Thánh Tâm Chúa yêu nhiều vô kể

Sun, 09/06/2024 - Nguyễn Xuân Trường

THÁNH  TÂM  CHÚA  YÊU  NHIỀU  VÔ  KỂ

Trong đời, tim luôn lúc lắc những nhịp đập yêu thương. Vì thế, Thánh Tâm Chúa Giêsu là hình ảnh sống động và chính xác nhất để diễn tả Thiên Chúa là tình yêu. Chúa yêu thế nào?

 1. Yêu vô điều kiện. Con người yêu nhau thường là có điều kiện. Yêu vì điều gì đó như: Anh yêu em vì em xinh đẹp duyên dáng. Em yêu anh vì anh giàu có to cao… Còn Chúa thì yêu vô điều kiện. Bài Đọc 1 cho thấy mặc dù con người không hiểu Chúa vẫn cứ yêu; mặc dù con người không chịu về với Chúa, Chúa vẫn cứ thương yêu chiều chuộng chứ không nóng giận. Trái tim Chúa không ngủ yên mà luôn thổn thức yêu thương.

2. Yêu vô cùng. Bản chất của tim là cung cấp máu cho các phần cơ thể. Tim yêu nên luôn quảng đại cho đi. Chúa yêu đến độ cho đi cả mạng sống của mình. Phúc Âm diễn tả cạnh sườn Chúa bị đâm thâu để tim chảy máu trao ban những giọt cuối cùng. Tim Chúa mở ra để dốc hết tình yêu trao tặng nhân loại. Người đời hay nói ngọn lửa tình yêu, còn trái tim Chúa là cả lò lửa tình yêu như lời kinh: “Trái tim Chúa Giêsu là lò lửa mến hằng cháy”. Chúa yêu vô cùng, vượt quá sự hiểu biết của con người.

Tình yêu như nắng như gió, có đó nhưng phải mở cửa lòng mới nhận được hạnh phúc. Thế nên, xin cho mỗi chúng ta hãy hướng nhìn lên

Đấng đã bị đâm thâu để cảm nhận được tình yêu thương vô cùng, vô điều kiện của Chúa. Và xin Chúa uốn lòng chúng con nên giống trái tim Chúa. Amen.

NGUYỄN XUÂN TRƯỜNG

Thứ Bảy, 8 tháng 6, 2024

*Lễ Đức Mẹ Vô Nhiễm Nguyên Tội*

 

Sat, 08/06/2024 - Đinh Văn Tiến Hùng

*Lễ  Đức  Mẹ  Vô  Nhiễm  Nguyên  Tội*

                                           (Lễ kính ngày 8/6/24)

Phúc Âm: Lc 2, 41-51

Tin Mừng Chúa Giêsu Kitô theo Thánh Luca.

“ Mẹ Người ghi nhớ những việc đó trong lòng”

Hằng năm cha mẹ Chúa Giêsu có thói quen lên Giêrusalem để mừng lễ Vượt qua. Lúc bấy giờ Chúa Giêsu lên mười hai tuổi, cha mẹ Người đã lên Giêrusalem, theo tục lệ mừng ngày lễ Vượt cha mẹ Người đã lên Giêrusalem, theo tục lệ mừng ngày lễ Vượt Qua. Và khi những ngày lễ đã hoàn tất, hai ông bà ra về, trẻ Giêsu đã ở lại Giêrusalem mà cha mẹ Người không hay biết. Tưởng rằng Người ở trong nhóm các khách đồng hành, hai ông bà đi được một ngày đàng, mới tìm kiếm Người trong nhóm bà con và những kẻ quen biết. Nhưng không gặp thấy Người, nên hai ông bà trở lại Giêrusalem để tìm Người. Sau ba ngày, hai ông bà gặp thấy Người trong đền thờ đang ngồi giữa các thầy tiến sĩ, nghe và hỏi các ông. Tất cả những ai nghe Người nói, đều ngạc nhiên trước sự hiểu biết và những câu Người đáp lại.

Nhìn thấy Người, hai ông bà đã ngạc nhiên, và mẹ Người bảo Người rằng: “Con ơi, sao Con làm cho chúng ta như thế? Kìa cha Con và mẹ đây, đã đau khổ tìm Con”. Người thưa với hai ông bà rằng: “Mà tại sao cha mẹ tìm con? Cha mẹ không biết rằng con phải lo công việc của Cha con ư?” Nhưng hai ông bà không hiểu lời Người nói. Bấy giờ Người theo hai ông bà trở về Nadarét, và Người vâng phục hai ông bà. Maria mẹ Người ghi nhớ những việc đó trong lòng.

+ Lịch sử & Ý nghĩa

Lịch sử của ngày lễ Đức Mẹ Vô Nhiễm bắt nguồn từ niềm tin của Giáo hội Công giáo về mầu nhiệm Đức Mẹ Vô Nhiễm Nguyên Tội. Mầu

nhiệm này cho rằng Đức Maria, Mẹ của Chúa Giêsu, đã được Thiên Chúa gìn giữ khỏi tội nguyên tổ ngay từ khi thụ thai trong lòng mẹ.

Niềm tin này đã được thể hiện trong Giáo hội từ thời nguyên thủy. Các giáo phụ như Thánh Irênêô, Thánh Grêgôriô thành Nyssa và Thánh Athanasiô đã viết về mầu nhiệm này.

Từ thế kỷ thứ VIII, Giáo hội Đông Phương đã mừng lễ “Thánh Anna thụ thai, mẹ của Theotokos (Mẹ Thiên Chúa)” vào ngày 9 tháng 12 hàng năm. Lễ này dựa vào Ngụy Thư “Tiền Tin Mừng của thánh Giacôbê”.

Tại phương Tây, Và năm 1050, Đức Giáo Hoàng Léon IX huấn dụ các tín hữu mừng kính Đức Trinh nữ thụ thai như Giáo Hội Đông phương đã làm. Lễ Đức Mẹ Vô Nhiễm Nguyên Tội bắt đầu được cử hành vào thế kỷ XII. Năm 1476, Đức Giáo Hoàng Sixtô IV ban phép cho các giáo phận ở Tây Ban Nha cử hành lễ này.

Năm 1854, Đức Giáo Hoàng Piô IX đã định tín mầu nhiệm Đức Mẹ Vô Nhiễm Nguyên Tội thành tín điều của Giáo hội Công giáo. Thông điệp Ineffabilis Deus của Đức Giáo Hoàng Piô IX đã tuyên bố rằng:

“Ta tuyên xưng, công bố và xác quyết rằng tín điều này đã được Thiên Chúa mặc khải và vì thế phải được mọi tín hữu tin nhận cách chắc chắn, không được rút lại.”

Từ đó, ngày 8 tháng 12 trở thành ngày lễ Đức Mẹ Vô Nhiễm Nguyên Tội cho toàn thể Giáo hội Công giáo.

Ngày lễ Đức Mẹ Vô Nhiễm Nguyên Tội là một ngày lễ quan trọng trong Giáo hội Công giáo. Đây là dịp để các tín hữu tôn kính Mẹ Maria, người đã được Thiên Chúa chọn làm Mẹ của Chúa Giêsu.

4 TÍN ĐIỀU VỀ ĐỨC MẸ:

-Đức Maria là Mẹ Thiên Chúa

-Đức Mẹ Vô Nhiễm Nguyên Tội

-Đức Mẹ Trọn Đời Đồng Trinh

-Đức Mẹ Hồn Xác Lên Trời

Trong Kinh Cầu Đức Bà có nhiều câu ca ngợi sự Vô nhiễm của Đức Mẹ - Xin trích dẫn những câu sau:

-Đức Mẹ cực mầu cực nhiệm

-Đức Mẹ chỉ bảo đàng lành

-Đức Nữ cực khôn cực Ngoan

-Đức Nữ rất đáng kính chuộng

-Đức Nữ rất đáng ngợi khen

-Đức Nữ có tài có phép

-Đức Nữ có lòng khoan nhân

-Đức Nữ trung tín thật thà

-Đức Bà là gương nhân đức

-Đức Bà là tòa Đấng khôn goan

 -Đức Bà làm cho chúng tôi vui mừng

………………

Vì những lời ca ngợi như trên đã xác nhận sự Vô nhiễm của Đức Mẹ

+ Mầu nhiệm Vô Nhiễm Nguyên Tội

Tín điều Đức Mẹ Vô Nhiễm Nguyên Tội là một tín điều của Giáo hội Công giáo Rôma, được tuyên xưng bởi Giáo hoàng Piô IX vào ngày 8 tháng 12 năm 1854. Tín điều này dạy rằng Đức Maria, Mẹ Thiên Chúa, ngay từ khi được thụ thai trong lòng mẹ, đã được Thiên Chúa gìn giữ khỏi mọi vết nhơ của tội nguyên tổ.

Tín điều này được dựa trên một số nền tảng thần học và kinh nghiệm của Giáo hội. Về mặt thần học, tín điều này nhấn mạnh đến vai trò của Đức Maria trong kế hoạch cứu độ của Thiên Chúa. Đức Maria là Mẹ của Đấng Cứu Thế, và vì vậy, Ngài phải được Thiên Chúa chuẩn bị đặc biệt để thực hiện sứ mệnh cao cả này.

Về mặt kinh nghiệm, tín điều này phản ánh niềm tin của các tín hữu Công giáo về Đức Maria. Từ thời nguyên thủy, các tín hữu đã tin rằng Đức Maria là một người phụ nữ thánh thiện và vẹn tuyền. Tín điều này đã chính thức hóa niềm tin này của các tín hữu.

Nội dung của tín điều Đức Mẹ Vô Nhiễm Nguyên Tội được trích dẫn trong Sách Giáo lý Hội Thánh Công giáo như sau:

Rất Thánh Trinh Nữ Maria ngay từ lúc tượng thai, bởi ân sủng và đặc ân của Thiên Chúa toàn năng, trông vào công nghiệp của Đức Kitô Giêsu Đấng Cứu độ loài người, đã được gìn giữ tinh tuyền khỏi mọi vết nhơ của nguyên tội.

Tín điều này đã được Giáo hội Công giáo tuyên xưng là một tín điều phổ quát, có nghĩa là tất cả các tín hữu Công giáo đều phải tin vào tín điều này.

Tín điều Đức Mẹ Vô Nhiễm Nguyên Tội có một ý nghĩa quan trọng đối với các tín hữu Công giáo. Tín điều này nhắc nhở các tín hữu về vai trò của Đức Maria trong kế hoạch cứu độ của Thiên Chúa. Đồng thời, tín điều này cũng là một nguồn an ủi và hy vọng cho các tín hữu, nhắc nhở họ rằng Đức Maria luôn ở bên cạnh họ và cầu nguyện cho họ.

Tín điều Đức Mẹ Vô Nhiễm Nguyên Tội được cử hành vào ngày 8 tháng 12 hàng năm. Đây là một ngày lễ trọng trong lịch phụng vụ của Giáo hội Công giáo.

Ý nghĩa của lễ Đức Mẹ Vô Nhiễm Nguyên Tội có thể được tóm tắt như sau:

Nhấn mạnh vai trò của Đức Maria trong kế hoạch cứu độ của Thiên Chúa. Đức Maria là Mẹ của Đấng Cứu Thế, và vì vậy, Ngài phải được Thiên Chúa chuẩn bị đặc biệt để thực hiện sứ mệnh cao cả này. Đức Maria được gìn giữ khỏi mọi vết nhơ của tội nguyên tổ là một dấu hiệu của ân sủng đặc biệt mà Thiên Chúa dành cho Mẹ.

Thể hiện niềm tin của các tín hữu Công giáo về Đức Maria. Từ thời nguyên thủy, các tín hữu Công giáo đã tin rằng Đức Maria là một người phụ nữ thánh thiện và vẹn tuyền. Lễ Đức Mẹ Vô Nhiễm Nguyên Tội là một dịp để các tín hữu Công giáo thể hiện niềm tin này.

Là một nguồn an ủi và hy vọng cho các tín hữu. Tín điều Đức Mẹ Vô Nhiễm Nguyên Tội nhắc nhở các tín hữu rằng Đức Maria luôn ở bên cạnh họ và cầu nguyện cho họ.

Trong ngày lễ này, các tín hữu Công giáo thường tham dự Thánh lễ, suy niệm về cuộc đời của Đức Maria, và cầu nguyện xin Đức Maria ban ơn cho họ.

Cầu nguyện

Con đến trước nhan Mẹ, một tâm hồn tội lỗi, nhưng con biết rằng Mẹ là Mẹ của lòng thương xót, là Đấng luôn lắng nghe và tha thứ cho những ai tin tưởng vào Mẹ.

Con xin Mẹ ban cho con ơn biết yêu mến và tôn kính Mẹ hơn nữa. Con muốn noi gương Mẹ, sống khiêm nhường, hiền lành và phó thác hoàn toàn trong tay Chúa.

Con xin Mẹ giúp con vượt qua những cám dỗ của cuộc sống, để con luôn sống trong ơn nghĩa của Chúa.

Con xin Mẹ cầu bầu cho con trước tòa Chúa, để con được ơn tha thứ tội lỗi, được ơn ơn cứu độ và được hưởng hạnh phúc Nước Trời đời đời

Lạy Mẹ Vô Nhiễm Nguyên Tội,

Con xin phó thác cuộc đời con trong tay Mẹ. Xin Mẹ gìn giữ và che chở con trên mọi nẻo đường đời. Amen

Đinh văn Tiến Hùng

 

 

Thứ Tư, 29 tháng 5, 2024

CHÚA NHẬT LỄ MÌNH MÁU THÁNH CHÚA KITÔ

 

 

Suy niệm Lễ Mình Máu Thánh Chúa Kitô

Tác giả: 
 Lm Phạm Hồng Thái

 

 

CHÚA NHẬT LỄ MÌNH MÁU THÁNH CHÚA KITÔ

 

          Chúa Giêsu lập Bí tích Thánh Thể đó là điều đương nhiên rồi. Nhưng để đi tới đỉnh cao là Thánh Thể, Chúa đã có  những bước chuẩn bị cho mầu nhiệm cao trọng này.

 

          Bước đầu tiên là việc Chúa đi dự tiệc cưới Ca na cùng với Đức Mẹ và các môn đệ đầu tiên. Trong tiệc cưới, Đức Mẹ cho Chúa biết: “Họ hết rượu rồi”. Câu trả lời của Chúa Giêsu cho Đức Mẹ có vẻ như là một sự từ chối can thiệp: “Thưa bà, chuyện đó can gì đến bà và con? Giờ  của con chưa đến”. Tuy nhiên Đức Mẹ vẫn tin tưởng, nên nói với gia nhân: “Người bảo gì các anh cứ việc làm theo” và kết quả là sáu chum đá đổ đầy nước lã được Chúa Giêsu hóa thành sáu chum rượu ngon! Tiệc cưới đang thiếu rượu bây giờ nhờ sự can thiệp của Đức Mẹ, Chúa Giêsu làm cho đôi tân hôn trong ngày cưới có rượu vừa dồi dào và lại là rượu ngon nữa! Chúng ta thấy ở đây một sự chuẩn bị cho bí tích Thánh thể: Chúa Giêsu biến nước thành rượu ngon để sau này Chúa sẽ  biến rượu trở nên Máu thánh Chúa.

 

          Tiếp đến chúng ta thấy một bước tiến nữa cho việc lập Bí tích Thánh Thể: đó là phép lạ Hóa Bánh ra nhiều với năm chiếc bánh và hai con cá, Chúa Giêsu hóa ra nhiều cho hơn năm ngàn người ăn no và còn thu về mười hai thúng đầy bánh vụn. Đặc biệt cử chỉ của Chúa Giêsu trước khi hóa bánh ra nhiều cũng tương tự như khi Chúa lập bí tích Thánh Thể: Chúa cầm lấy bánh, ngước mắt lên trời, đọc lời chúc tụng rồi trao cho các môn đệ để các ông phân phát cho dân chúng. Nay trong phép Thánh Thể, Bánh được bẻ ra và phân phát cho dân Chúa như vậy, vì thế mà thời giáo hội sơ khai thánh lễ được gọi là lễ nghi bẻ bánh.

 

          Cao điểm của bí tích Thánh thể được Chúa Giêsu thực hiện trong Bữa Tiệc ly để với lời: “Này là Mình Thầy bị nộp vì các con”; “Này là  Máu Thầy sẽ đổ ra để đem lại ơn tha tội cho nhiều người. Các con hãy cầm lấy mà ăn, các con hãy nhận lấy mà uống” Chúa Giêsu trở nên lương thực thiêng liêng cho chúng ta được bổ dưỡng trên đường về nhà Cha. Máu Chúa Giêsu chỉ đổ ra một lần trên cây Thánh giá, nên khi cử hành thánh lễ, hội thánh hiện tại hóa lễ hi sinh trên cây Thánh giá còn trong bí tích Thánh thể, Chúa Giêsu muốn chúng ta cử hành nhiều lần nên mới nói:  “Các con hãy làm việc này mà nhớ đến Thầy.”

 

Chúng ta nhận biết là Chúa Giêsu ngự thật trong bí tích Thánh Thể nên Chúa mới nói: “Này là Mình Thầy”.  Đức tin Công giáo luôn tuyên xưng như vậy trong khi đạo Tin Lành lại nói là Bánh thánh chỉ là biểu tượng chứ không phải là Chúa ngự thật trong Thánh thể, nói như vậy là đi ngược với lời Chúa vì Chúa đâu có nói “Này là biểu tượng của Mình Thầy” mà Chúa quả quyết: “Này là Mình thầy.”

 

Chúng ta ghi nhớ còn một tường thuật liên can tới bí tích Thánh Thể nữa đó là sau khi sống lại, Chúa Giêsu đồng hành với hai môn đệ trên đường  Emmaus: dọc đường Chúa giải thích Kinh thánh cho hai ông: Các ông cảm thấy lòng sốt sắng lên khi được nghe Chúa nói: có thể coi như đây là phần phụng vụ lời Chúa trong thánh lễ. Rồi khi tới Emmaus, Chúa Giêsu vào nhà, đồng bàn với hai ông: Chúa cầm lấy bánh, đọc lời chúc tụng, bẻ ra và trao cho hai ông, bấy giờ mắt hai ông sáng ra và nhận ra Chúa: có thể nói đây chính là Phụng vụ Thánh Thể. Lời Chúa và Mình Thánh Chúa là lương thực giúp chúng ta được đồng hành với Chúa.

 

Mừng lễ Mình Máu thánh Chúa, chúng ta cảm tạ tình yêu thương Chúa ban Thánh Thể nên lương thực và không gì bằng chúng ta đáp lại lời Chúa: “Các con hãy nhận lấy mà ăn; Các con hãy nhận lấy mà uống” để chúng ta được kết hợp với Chúa và được Chúa ở lại với chúng ta mọi ngày cho đến Tận thế đồng thời được hưởng lời Chúa hứa: “Ai ăn Bánh này sẽ sống đời đời.”

 

Câu chuyện: Ông Smith Rước lễ. Một thừa tác viên đưa Mình Thánh kể: Khi tôi đem Mình Thánh Chúa cho các bệnh nhân và những cụ già tại một nhà dưỡng lão, lần đầu tiên tôi gặp ông Smith. Ông ta mắc bệnh rối loạn tâm thần. Khi tôi gõ cửa phòng ông và đang chuẩn bị bước vào, tôi tự giới thiệu và cho ông biết giáo xứ đã cử tôi đến đây. Ông ta tỏ vẻ bực bội và khó chịu nói vọng ra: “Xin lỗi, mời ông bước ra”. Khi tôi vừa quay lưng để định thoái lui, ông gọi giật lại và hỏi: “Ông đến đây làm gì?” Tôi trả lời: “Tôi đến đem Mình Thánh Chúa cho ông”. Bấy giờ ông lên tiếng: “Ồ, chuyện đó lại khác, mời ông vào!”. Thái độ của ông bỗng chốc trở nên cung kính và sốt sắng cách lạ thường. Chúng tôi cùng cầu nguyện với nhau và đọc kinh Lạy Cha, rồi tôi trao Mình Thánh Chúa cho ông. Ông đón nhận với thái độ rất kính cẩn và chậm rãi cầu nguyện cám ơn Chúa sau khi đã rước lễ. Tôi rất cảm động. Sau đó tôi chào ông và nói “Chào ông nhé, bây giờ thì tôi bước ra đây”.

 

Chúng ta tôn kính Mình Thánh Chúa và Rước lễ mỗi khi tham dự Thánh lễ nếu có thể để được sức mạnh thiêng liêng Chúa ban, và được sống lại trong ngày sau hết cùng được sự sống đời. Amen

 

Chủ Nhật, 26 tháng 5, 2024

Suy Niệm Tin Mừng Thiên Chúa Ba Ngôi

 

Suy Niệm Tin Mừng Thiên Chúa Ba Ngôi

Sun, 26/05/2024 - Jorathe Nắng Tím

TMĐP- Mầu nhiệm Thiên Chúa Ba Ngôi là nền tảng của đức tin Kitô giáo, là mầu nhiệm trung tâm, cốt lõi.

Tín điều “Chúa Ba Ngôi” được chính thức tuyên tín từ thế kỷ thứ tư, nhưng ngay từ thời các thánh Tông Đồ, Thiên Chúa Ba Ngôi đã được cộng đoàn tín hữu long trọng tuyên xưng trong khi cử hành phép rửa như  được Đức Giêsu truyền  dạy trong Tin Mừng Matthêu: “Anh em hãy đi và làm cho muôn dân trở thành môn đệ, làm phép rửa cho họ nhân danh Chúa Cha, Chúa Con và Chúa Thánh Thần” (Mt 28,19).

Quả thực, nếu Đức Giêsu không mặc khải Thiên Chúa là ai thì không phàm nhân nào có thể biết Thiên Chúa, biết thánh ý Ngài, như chính Đức Giêsu đã qủa quyết với ông Nicôđêmô: “Không ai đã lên trời, ngoại trừ Con Người đã từ trời xuống” (Ga 3,13), và chỉ Con Người đã từ trời xuống mới biết “những chuyện trên trời” (Ga 3,12); chỉ Đấng là Con Thiên Chúa từ trời xuống mới biết Thiên Chúa , Cha Ngài là ai. Ngài là

“Thiên Chúa đã yêu thế gian đến nỗi đã ban Con Một, để ai tin vào Con của Người thì khỏi phải chết, nhưng được sống muôn đời” (Ga 3, 16).

Ngài còn nói cho nhân loại biết: “Tôi và Chúa Cha là một” (Ga 10,30), “Chúa Cha ở trong tôi và tôi ở trong Chúa Cha” (Ga 10,38). Về phần Chúa Thánh Thần: Ngài là Đấng Bảo Trợ,” Đấng mà Thầy sai đến với anh em từ nơi Chúa Cha, Người là Thần Khí sự thật phát xuất từ Chúa Cha, Người sẽ làm chứng về Thầy.” (Ga 15,26). “Người sẽ dẫn anh em tới sự thật toàn vẹn, Người sẽ không tự mình nói điều gì, nhưng tất cả những gì Người nghe, Người sẽ nói lại và loan báo cho anh em những điều sẽ xảy ra. Người sẽ tôn vinh Thầy, vì Người sẽ lấy những gì là của Thầy mà loan báo cho anh em. Mọi sự Chúa Cha có đều là của Thầy. Vì thế, Thầy đã nói: Người lấy những gì là của Thầy mà loan báo cho anh em” (Ga 16,13-15).

Trong Tin Mừng, Đức Giêsu mặc khải Thiên Chúa là Thiên Chúa duy nhất, nhưng có Ba Ngôi, và Ba Ngôi mật thiết kết hiệp với nhau  trong mọi sự, mọi hoạt động, đến nỗi không một sinh hoạt nào của Đức Giêsu mà không là thánh ý Chúa Cha, và với sự cộng tác tích cực, thiết thân, hoàn hảo của Chúa Thánh Thần như “khi Đức Giêsu chịu phép rửa  xong, vừa ở dưới nước lên, thì các tầng trời mở ra, Người thấy Thần Khí Thiên Chúa đáp xuống như chim bồ câu và ngự trên Người. Và có tiếng từ trời phán: “Đây là Con yêu dấu của Ta, Ta hài lòng về Người” (Mt 3,16-17), hoặc “Đức Giêsu được Thần Khí dẫn vào hoang địa để chịu ma quỷ cám dỗ” (Mt 4, 1).

Ngay từ thời Cựu Ước, Thiên Chúa đã chọn Ítraen làm dân riêng của Ngài, và nói với họ qua các ngôn sứ được Thần Khí của Ngài linh ứng, nhưng  đến thời Tân Ước, chính Ngôi Lời là Con Một của Ngài đã xuống thể gian để nói với  loài người  về ý định cứu độ của Ngài, đồng thời  cùng Chúa Thánh Thần thực hiện chương trình cứu độ ấy theo ý Chúa Cha.

Thánh vịnh 32  cũng nói lên hoạt động của một Thiên Chúa duy nhất nhưng ba ngôi vị: Chúa Cha, Chúa Con cũng là Ngôi Lời và Chúa Thánh Thần là Thần Khí, Hơi Thở  của  Thiên Chúa  trong công trình tạo dựng: “Một lời Chúa phán làm ra chín tầng trời, một hơi thở Chúa tạo thành muôn tinh tú” (Tv 32,6).

Riêng thánh Phaolô thì không ngừng  nhấn mạnh vai trò của Chúa Thánh Thần trong Giáo Hội khi viết: “Phàm ai được Thần Khí Thiên Chúa hướng dẫn, đều là con cái Thiên Chúa… Thần Khí làm cho anh em nên nghĩa tử, nhờ đó chúng ta được kêu lên “Ápba! Cha ơi!” (Rm 8,14.15).

Một khi được làm con, chúng ta sẽ không còn là nô lệ và phải sợ hãi Thiên Chúa như xưa (x. Rm 8,15). Trái lại, chúng ta được gọi Thiên Chúa là Cha, như Đức Giêsu khẳng định khi dạy chúng ta cầu nguyện với Chúa Cha bằng chính tâm tình và lời kinh của Ngài: “Lạy Cha chúng con ở trên trời …” (x. Mt 6, 9-13).

Tóm lại, mầu nhiệm Thiên Chúa Ba Ngôi là nền tảng của đức tin Kitô giáo, là mầu nhiệm trung tâm, cốt lõi. Đó là lý do người Kitô hữu bất cứ ở đâu, khi nào, và trong mọi nghi lễ phụng vụ cũng như  sinh  hoạt của đời sống thường  ngày đều tuyên xưng Thiên Chúa Ba Ngôi qua việc làm dấu Thánh Giá  với tất cả lòng tín thác, mến yêu, và trông cậy tuyệt đối khi kính cẩn và long trọng tuyên xưng  Thiên Chúa Ba Ngôi chí thánh: “Nhân danh Cha, và  Con và Thánh Thần”.

Jorathe Nắng Tím

Thứ Bảy, 25 tháng 5, 2024

Lời Nguyện Tín Hữu LỄ BA NGÔI THIÊN CHÚA - NĂM B

 

Fri, 24/05/2024 - Manna Bảo Lộc

Lời Nguyện Tín Hữu 

LỄ BA NGÔI THIÊN CHÚA - NĂM B

Anh chị em thân mến,

Hôm nay Giáo Hội mừng kính mầu nhiệm Một Chúa Ba Ngôi - là Thiên Chúa duy nhất, thánh thiện, uy quyền và tràn đầy tình yêu thương. Vậy chúng ta hãy cùng nhau cảm tạ, tôn vinh Ba Ngôi chí thánh và dâng lời cầu xin:

Qua Bí tích Rửa tội, mỗi người Kitô hữu đều được ghi dấu hình ảnh Chúa Cha, Chúa Con và Chúa Thánh Thần. Xin cho mọi thành phần trong Hội Thánh, luôn biết quý trọng ơn gọi làm con Chúa, và giữ mình tránh xa những điều tội lỗi, để tâm hồn xứng đáng là nơi ngự trị của Ba Ngôi Thiên Chúa.

Chúng ta cùng cầu xin Chúa:

Ba Ngôi Thiên Chúa cùng chung một bản tính, đồng tâm nhất trí trong một tình yêu. Xin cho các Chủ chăn và đoàn chiên luôn sống gắn bó thân tình, sẵn sàng chia sẻ khó khăn và cộng tác với nhau, để góp phần làm sáng danh Chúa giữa môi trường sống hằng ngày.

Chúng ta cùng cầu xin Chúa:

Mầu nhiệm Thiên Chúa Ba Ngôi rất gần gũi thân thiết với người Kitô hữu. Xin cho mọi người nơi xứ đạo chúng ta, biết mạnh dạn tuyên xưng niềm tin của mình nơi công sở cũng như trong học đường, luôn ý thức sốt sắng mỗi khi làm Dấu Thánh Giá với tất cả lòng yêu mến và kính trọng.

Chúng ta cùng cầu xin Chúa:

Hôm nay Chúa nhật cuối cùng của tháng Hoa - Tháng kính Đức Mẹ. Xin cho mỗi người chúng ta luôn biết siêng năng đọc kinh lần chuỗi mỗi ngày, để trong từng niềm vui-nỗi buồn, cũng như bao khó khăn trở ngại, luôn có Đức Mẹ đồng hành chỉ dẫn.

Lạy Chúa, Mầu nhiệm Ba Ngôi thật cao cả, vượt xa trí hiểu biết của con người. Xin cho chúng con biết đón nhận với lòng tín thác cậy trông, cố gắng sống hiệp nhất yêu thương, để góp phần xây dựng gia đình và xứ đạo trở thành hiện thân của tình yêu Ba Ngôi Thiên Chúa. Chúng con cầu xin nhờ Đức Kitô, Chúa chúng con.

 

 

 

 

Thứ Tư, 22 tháng 5, 2024

Yêu bằng Tình Yêu Ba Ngôi Thiên Chúa

 

Wed, 22/05/2024 - Lm Nguyễn Văn Độ

Yêu bằng Tình Yêu Ba Ngôi Thiên Chúa

SUY NIỆM LỄ CHÚA BA NGÔI NĂM - B - (Mt 18, 26-30)

Chúa Nhật đầu tiên sau Lễ Chúa Thánh Thần Hiện Xuống chính là Đại Lễ Chúa Ba Ngôi mà trong tiếng La-tinh gọi là Trinitatis: Thiên Chúa là Cha, Con và Thánh Thần.

Lễ này nhắc chúng ta nhớ tới mầu nhiệm Tình Yêu của Thiên Chúa hằng sống. Chúa Giê-su đã mạc khải cho chúng ta về Thiên Chúa là Cha đầy lòng yêu mến, Chúa Thánh Thần là kết quả của tình yêu giữa Chúa Cha và Chúa Con; đồng thời Người cũng đã tự mô tả mình là Con Thiên Chúa Tình Yêu.

Có thể nói mà không sợ sai lầm rằng, toàn bộ đời sống của người kitô hữu tràn ngập sự hiện diện của Thiên Chúa Ba Ngôi và xoay quanh mầu nhiệm Tình Yêu ấy. Trước hết chúng ta được rửa tội nhân danh Thiên Chúa Ba Ngôi. Người rửa tội vừa đổ nước vừa đọc rằng, cha rửa con hoặc tôi rửa ông bà anh chị “Nhân Danh Cha và Con và Thánh Thần“. Vẫn Nhân Danh Cha và Con và Thánh Thần khi cử hành Bí tích Hôn nhân, người nam và người nữ được ràng buộc nên vợ nên chồng (A, hoặc E, hãy nhận chiếc nhẫn cưới này làm dấu chỉ tình yêu và lòng trung thành của A, hoặc E, Nhân Danh Cha và Con và Thánh Thần). Lời cầu nguyện vào cuối đời, chúng ta cầu nguyện rằng: Hỡi linh hồn, hãy lìa xa trần thế này, nhân Danh Thiên Chúa là Cha, Đấng đã tạo dựng, Chúa Con, Đấng đã cứu chuộc và Chúa Thánh Thần, Đấng đã thánh hóa với hy vọng rằng Thiên Chúa Ba Ngôi sẽ ban cho người qua đời được hưởng phúc trường sinh. Chính vì thế mà trong mối liên hệ với mầu nhiệm không cùng này, đời sống Ki-tô hữu chính là việc hiện thực hóa mầu nhiệm Thiên Chúa Ba Ngôi.

Bài trích sách Đệ nhị luật (4,32-34.39-40) kể lại việc Môsê nhắc nhở dân Is-ra-el hãy nhớ lại những kỳ công Thiên Chúa đã làm cho Dân. Chúa là Thiên Chúa Tình Yêu; ngoài Chúa ra, không có thần nào khác nữa. Chúa Con là Đấng ban ân sủng, Chúa Cha là nguồn suối tình yêu, Chúa Thánh Thần là Đấng hiệp nhất các tín hữu. Chúa Cha yêu thế gian, không muốn luận phạt thế gian (x.Ga 3,1-6).

Trong thư gửi tín hữu Rôma (Rm 8,14-17), Thánh Phaolô minh chứng rằng: Chúa Thánh Thần vì yêu mến đã làm cho chúng ta trở nên những người con của Thiên Chúa là Cha, và anh em của Chúa Giêsu Kitô, Con Thiên Chúa trong tình yêu.

Để nhân loại được tận hưởng Tình Yêu Ba Ngôi, Chúa Giêsu đã sai các môn đệ đi rao giảng và làm phép rửa cho muôn dân Nhân Danh Cha và Con và Thánh Thần (x.Mt 18,26-30).

Mừng lễ Chúa Ba Ngôi, chúng ta khám phá ra sự hiệp thông trong ánh sáng và Tình Yêu, sự sống được trao tặng và đón nhận giữa Chúa Cha và Chúa Con, trong Chúa Thánh Thần, Đấng Yêu Thương, Đấng Được Yêu và chính Tình Yêu, theo cách nói của Thánh Augustinô.

Khi nói đến tình yêu Thiên Chúa, chúng ta phải hiểu đây là một sự hiệp thông giữa các Ngôi Vị, Bản chất của Thiên Chúa, sự hiện hữu của Ngài chính là để yêu mến chúng ta. Ngài là hiện thân của Tình yêu. Ngôi Cha chỉ là Cha vì Ngài hiện hữu cho Con Ngài. Ngôi Con hiện hữu vì chỉ sống cho Cha, hiến trọn cho Ngài. Thánh Thần là do bởi mối tình Cha và Con.

Một Thiên Chúa trong Ba Ngôi tuy riêng biệt nhưng cùng một bản thể và uy quyền bằng nhau. Chúa Cha là Thiên Chúa độc nhất. Chúa Con sinh bởi Đức Chúa Cha từ trước muôn đời. Chúa Thánh Thần phát xuất từ Chúa Cha và Chúa Con tự đời đời như một Nguyên lý duy nhất, Ba Ngôi nhưng là Một Thiên Chúa.

“Thiên Chúa Ba Ngôi” là một từ thần học không có trong Kinh Thánh nhưng được dùng để diễn tả một cách rõ ràng nhất về Thiên Chúa Ba Ngôi là  Đức Chúa Cha, Đức Chúa Con (tức là Chúa Giêsu) và Chúa Thánh Thần… Kinh Thánh cũng minh nhiên rằng chỉ có Một Thiên Chúa Duy Nhất, nhưng có Ba Ngôi Vị y hệt nhau về bản tính thiêng liêng. Một vài người đã cố gắng để đem lại cho con người những sự minh họa về Thiên Chúa Ba Ngôi, nhưng tất cả đều khập khiễng, vì Thiên Chúa không như người ta tưởng.

Thánh Augustinô viết: “Thiên Chúa là một mầu nhiệm mà con người không thể nào thấu hiểu được”. Đúng, Thiên Chúa Ba Ngôi là một mầu nhiệm vĩ đại, sâu thẳm, chúng ta không thể nào diễn tả được. Trí tuệ và miệng lưỡi con người không tài nào giải thích được những mối tương quan giữa Chúa Cha, Chúa Con và Chúa Thánh Thần.

Thiên Chúa nhân lành và yêu thương, nên tất cả mọi việc Ngài làm đều thể hiện lòng nhân lành và tình yêu thương ấy. Thiên Chúa là Tình Yêu. Ngài yêu thương chúng ta. Ngài muốn chúng ta hoàn hảo hơn, tốt hơn, đây là chân lý hiển nhiên. Những sự tốt lành và yêu thương ấy thấm nhập vào trong cuộc đời chúng ta, làm cho chúng ta nên hoàn hảo.

Thánh Gioan Thánh Giá viết: “Bạn hãy đem tình yêu đến nơi không có tình yêu, bạn sẽ tìm thấy tình yêu”. Và điều này rất đúng, bởi vì đó chính là những gì Thiên Chúa đã và đang làm cho thế giới. “Thiên Chúa đã yêu thế gian đến nỗi đã ban Con Một Người để tất cả những ai tin ở Con của Người, thì không phải hư mất, nhưng được sống đời đời” (Ga 3,16).

Người ta nói nhiều về tình yêu. Tình yêu là những gì Thiên Chúa dành cho chúng ta. Hãy yêu đi, bạn sẽ được hạnh phúc! Vì tình yêu chính là trao ban sự sống cho người mình yêu. Tình yêu đơn giản là cho đi nhưng không. Yêu là mất tất cả để nhận được mọi sự từ Thiên Chúa. Yêu là sống mà không tính toán. Yêu là trở nên giống Thiên Chúa.

Lm. An-tôn Nguyễn Văn Độ

Thứ Tư, 1 tháng 5, 2024

Bạn Có Từng Nuối Tiếc Không?

 Wed, 01/05/2024 - 21:33

Tác giả: 
 Lm Tạ Duy Tuyền

Bạn Có Từng Nuối Tiếc Không?

 

Có một nhóm nghiên cứu xã hội đã làm một thử nghiệm như sau: Họ đặt một tấm bảng lớn ở công viên với dòng chữ đề rằng “Hãy viết ra điều nuối tiếc lớn nhất của bạn”.

 

Khi xem các dòng chữ được viết trên tấm bảng, người ta nhận ra rằng có rất nhiều điều nuối tiếc được bắt đầu bằng chữ “không”: “không trân trọng những cái mình đang có”, “không chớp lấy cơ hội”, “không nói ra điều muốn nói”, “không mạnh dạn theo đuổi ước mơ”…

 

Bên cạnh nuối tiếc về những cơ hội đã bỏ lỡ, những ước mơ đã không dám theo đuổi, thì nuối tiếc thường thấy nhất xoay quanh những mối quan hệ tình cảm. Có người ước mình đã chọn bạn tốt hơn, đã trân trọng và giữ gìn cho mình những tình cảm đẹp hơn với người bên cạnh . . .

 

Có lẽ sự nuối tiếc về một tình cảm sẽ làm ta tổn thương lâu dài nhất. Về tình yêu, người ta thường hối tiếc vì đã không hồi đáp lại những tình cảm đẹp mà mình đã từng nhận được và sau này vĩnh viễn không gặp được người nào tương tự như thế.

 

Có rất nhiều tình yêu nam nữ đang nồng nàn, đang đẹp đôi. Thế nhưng, vì một chút hiểu lầm mà họ rời xa nhau. Vì tham vọng mà họ chia tay nhau để chay theo mối tình chỉ dựa trên đồng tiền, danh vọng, quyền lực. Họ đã rời xa tình yêu chân thật thì làm sao họ có thể hạnh phúc trọn vẹn trong đời sống hôn nhân không có tình yêu.

 

Có rất nhiều bạn trẻ vì nông nổi chạy theo đam mê cuồng vọng mà rời xa tình yêu cha mẹ. Họ muốn tận hưởng giây phút tự do không có sự che chở của cha mẹ. Nhưng cuộc đời đâu bao giờ ban không cho ai hạnh phúc. Chỉ trong tình yêu cha mẹ mới ban phát nhưng không mà thôi! Thế nên, nhiều bạn trẻ khi rời xa gia đình mới nuối tiếc vì mình không ở lại trong tình yêu của gia đình nên bây giờ mới cô đơn giữa chợ đời.

 

Có rất nhiều người đã rời xa tình yêu của Chúa để chạy theo danh lợi thú trần gian. Họ nghĩ rằng không có Chúa họ vẫn sống. Rời xa Chúa để tự do hưởng lạc những thú vui trên đời. Họ nghĩ rằng sẽ hạnh phúc mà không cần có Chúa, nhưng họ quên rằng Thiên Chúa không phải là cảnh sát chỉ có nhắc nhở, cấm đoán, mà Thiên Chúa là tình yêu. Một tình yêu quan phòng và bao dung với những bất toàn của con người.

 

Lời Chúa hôm nay mời gọi chúng ta hãy trân trọng tình yêu mà chúng ta đang có. Hãy ở lại trong tình yêu của Chúa và tha nhân. Ở lại mời gọi chúng ta đừng phụ nghĩa vong ân với tình yêu mà Chúa cũng như mọi người dành cho chúng ta. Ở lại bằng việc trung thành tuân giữa giới răn Chúa cũng như chung thủy với người mình thương.

 

Ở lại trong Chúa để tình yêu Chúa thẩm thấu trong cuộc đời chúng ta. Chính tình yêu Chúa sẽ biến đổi chúng ta nên giống như Ngài trong cách sống toả lan tình yêu thuơng. Chínhtình yêu sẽ biến chúng ta nên dấu chỉ người môn đệ của Chúa là anh em hãy yêu thương nhau như Thầy đã yêu thương anh em.

 

Ước gì chúng ta biết tuân giữ lời Chúa để tình Chúa mãi ở lại trong chúng ta. Ước gì chúng ta đừng xa rời tình yêu của cha mẹ, của bạn bè, người yêu chỉ vì ích kỷ của bản thân mà có lỗi với nhau. Xin Chúa giúp chúng ta biết trung thành với Chúa và với nhau qua việc tuân giữ giới răn của Người. Amen.

 

Lm.Jos Tạ Duy Tuyền

https://www.youtube.com/watch?v=p7BVjIX-few

Thứ Tư, 24 tháng 4, 2024

CN IV PS - Được sinh ra trên Cõi Đời và Cõi Trời

 Sun, 21/04/2024 - 15:42

Tác giả: 
 Lm Dương Trung Tín

 

 

CN IV PS  

Được sinh ra trên Cõi Đời và Cõi Trời

 

  “Vậy xin tất cả quí vị và toàn dân Ít-ra-en biết cho rằng: Chính nhờ Danh Đức Giê-su Ki-tô, người Na-da-rét, Đấng mà quí vị đã đóng đinh vào thập giá; Thiên Chúa đã làm cho Người trỗi dậy từ cõi chết. Chính nhờ Đấng ấy mà người này được lành mạnh đang đứng trước mặt quí vị đây”(Cv 4,10).

 

   “Chính nhờ Danh Đức Giê-su Ki-tô”, tức là “Chính nhờ Đức Giê-su Ki-tô”. “Danh” hay “Tên” chính là người đó. Người ta nói TÊN là NGƯỜI là như vậy. Dân Do-thái đâu có đóng đinh “TÊN” Giê-su Ki-tô vào thập giá đâu; họ đóng đinh Người có tên là Giê-su Ki-tô đó chứ. Và Thiên Chúa cũng không làm cho TÊN Giê-su Ki-tô trỗi dậy; mà làm cho Đấng có tên là Giê-su Ki-tô trỗi dậy.

 

   Đức Giê-su Ki-tô đó được Thiên Chúa làm cho trỗi dậy, tức làm cho Đức Giê-su Ki-tô PHỤC SINH. Theo sách Giáo Lý Công Giáo thì: “Sự phục sinh của Đức Ki-tô là đối tượng của đức tin, vì đó là sự can thiệp siêu việt của chính Thiên Chúa trong công trình sáng tạo và trong lịch sử. Trong cuộc phục sinh này, cả Ba Ngôi Thiên Chúa vừa cùng chung hoạt động, vừa biểu lộ tính cách riêng biệt của mình. Sự phục sinh được thực hiện do quyền năng của Chúa Cha, Đấng “đã làm cho Đức Ki-tô, Con của Người sống lại”, nhờ đó, Chúa Cha đưa trọn nhân tính- cùng với thân xác của Đức Ki-tô vào mầu nhiệm Ba Ngôi một cách hoàn hảo. Đức Giê-su được mặc khải chung cuộc là “Con Thiên Chúa với tất cả quyền năng theo Thánh Thần, do việc Người từ cõi chết sống lại””(x. GLCG, số 648).

 

    “Về phần Chúa Con, Người tự sống lại do quyền năng Thiên Chúa của mình”(x. GLCG, số 649). Vì Đức Giê-su có hai bản tính, nên xét về bản tính loài người, thì Thiên Chúa làm cho Người từ cõi chết sống lại; xét về bản tính Thiên Chúa, thì Đức Giê-su tự mình sống lại.

 

  “Các Giáo Phụ thì chiêm ngắm mầu nhiệm phục sinh từ Ngôi Vị Thiên Chúa của Đức Ki-tô. Ngôi Vị này vẫn kết hợp với hồn và xác đã bị cái chết tách rời. “Nhờ sự duy nhất của bản tính Thiên Chúa, nên bản tính Thiên Chúa hiện diện ở cả hai phần của con người “Ki-tô”, nên hai phần này có thể tái hợp với nhau. Như vậy, chết là sự tách rời hai phần của con người “Giê-su” và phục sinh là sự kết hợp hai phần đó lại”(x. GLCG, số 650).

 

   Có thể nói: “Sự Phục Sinh” xác nhận Thiên Tính thật của Đức Giê-su. Người đã nói: “Khi các ông đưa Con Người lên cao, bấy giờ các ông sẽ biết là Tôi Hằng Hữu”(Ga 8,28). Sự Phục Sinh của Đấng bị đóng đinh, chứng minh rằng Người thực sự là “Đấng Hằng Hữu”; là Con Thiên Chúa và là chính Thiên Chúa. Thánh Phao-lô có thể tuyên bố với người Do-thái: “Điều Thiên Chúa hứa với cha ông chúng ta, thì Người đã thực hiện khi làm cho Đức Giê-su sống lại, đúng như lời đã chép trong Thánh Vịnh 2: “Con là Con của Cha, ngày hôm nay Cha đã sinh ra Con”(Tv 13, 32-33). Mầu nhiệm Phục Sinh liên kết mật thiết với mầu nhiệm Con Thiên Chúa nhập thể. Sự Phục Sinh hoàn tất mầu nhiệm Nhập Thể theo ý định muôn đời của Thiên Chúa”(x. GLCG, số 653).

 

   Theo đó, có thể nói, mỗi người chúng ta có ba ngày sinh. Ngày sinh thứ nhất là chúng ta được sinh ra trên cõi đời này. Ngày sinh thứ hai là ngày chúng ta chịu phép rửa tội; ngày chúng ta được sinh ra trong Hội Thánh; và ngày sinh thứ ba là ngày chúng ta được sinh ra trên cõi trời. Trong ba ngày đó, Chúa nói với chúng ta rằng: “Con là Con của Cha, ngày hôm nay Cha đã sinh ra Con”.

 

   Chúa sinh chúng ta trên cõi đời này; Chúa sinh chúng ta trong Giáo Hội và Chúa sinh chúng ta trên cõi trời. Khi chúng ta được sinh ra trên cõi đời này, có sự giúp sức của cha mẹ chúng ta, chúng ta được làm một con người. Rồi khi chúng ta được rửa tội, chúng ta được sinh ra trong Giáo Hội Công Giáo, để từ đó, chúng ta sống trên trần gian này với tư cách là một con người và với tư cách là Con Thiên Chúa.

 

   Nhưng chúng ta sẽ ra sao; chúng ta sẽ như thế nào; chúng ta có được sinh trên cõi trời hay không, điều đó chưa được tỏ hiện. Khi Đức Ki-tô xuất hiện mà chúng ta không giống như Người thì nguy to. Nếu, khi Đức Ki-tô xuất hiện, Người thế nào chúng ta cũng giống Người như vậy, thì phúc cho chúng ta lắm. Khi đó chúng ta sẽ được sinh ra trên cõi trời.

 

   Để được như vậy, thì ngay khi còn sống trên cõi đời này, chúng ta phải noi gương Đức Giê-su mà sống; chúng ta phải nghe lời Đức Giê-su dạy và đem ra thực hành. Từng ngày và từng ngày, cho tới lúc nhắm mắt xuôi tay, chúng ta dần dần nên giống Chúa; để rồi khi Đức Ki-tô xuất hiện hay khi chúng ta xuất hiện trước mặt Đức Ki-tô, chúng ta thấy mình giống Chúa. Càng giống Chúa bao nhiêu thì chúng ta sẽ được sinh vào cõi trời nhanh bấy nhiêu.

 

   Đức Giê-su Ki-tô là Mục Tử nhân lành mà. Đấng đã hy sinh mạng sống cho đoàn chiên; hy sinh mạng sống cho mỗi người chúng ta, để chúng ta được sinh ra trên cõi trời đấy. Vậy, chúng ta phải biết vâng nghe Vị Mục Tử nhân lành của chúng ta và chỉ vâng nghe một mình Người mà thôi. Vì, Dưới gầm trời này, không có một Danh nào khác; không có một người nào khác được ban cho nhân loại, để chúng ta phải nhờ vào Danh đó; phải nhờ vào Người đó mà được cứu độ, mà được sinh ra trên cõi trời đâu. Chỉ nhờ Danh của Đức Giê-su Ki-tô; chỉ nhờ một người là Đức Giê-su Ki-tô, chúng ta mới được cứu độ; chúng ta mới được sinh ra trên cõi trời mà thôi. Vậy chúng ta hãy tin vào sự Phục Sinh của Đức Ki-tô và sống mầu nhiệm đó trong cuộc đời của mình, để chúng ta đã được Chúa sinh ra trên CÕI ĐỜI, chúng ta cũng sẽ được Chúa sinh ra trên CÕI TRỜI nữa.

 

(Lm. Bosco Dương Trung Tín)