Chủ Nhật, 14 tháng 2, 2021

ĐỜI HỦI TỦI PHẬN


ĐỜI  HỦI  TỦI  PHẬN

Monday, February 8, 2021



Mặc dù ngày nay đã có thuốc điều trị bệnh phong, nhưng bệnh phong vẫn là nỗi ám ảnh kinh hồn của con người, chẳng khác gì hiện nay con người đang kinh sợ đối với loài quỷ sứ corona vậy. Biến chứng thể lý ảnh hưởng tinh thần, gây chấn thương tâm lý, và có thể để lại di chứng suốt đời. Thật đáng quan ngại!

Năm 1873, bác sĩ Armauer Hansen, người Na Uy, đã phát hiện vi khuẩn gây bệnh phong. Nó không có bào tử nên nó không lây qua vật trung gian, chỉ tồn tại được khoảng 1-2 ngày khi nó ở ngoài. Vi khuẩn Mycobacterium Leprae và Mycobacterium Lepromatosis làm cho da thịt bệnh nhân thường nổi nhọt, lở loét, nặng hơn thì vết thương lõm vào da thịt, lông mày rụng, mắt lộ ra,... Bệnh nhân phong chịu đựng sự đau nhức vào những đêm trăng, trăng càng sáng thì họ càng đau nhức vì vi khuẩn rúc rỉa, do đó mà Thi sĩ Phanxicô Hàn Mặc Tử (Nguyễn Trọng Trí, 1912-1944), trong thi phẩm Trăng Vàng Trăng Ngọc, đã thốt lên: “Ai mua trăng, tôi bán trăng cho...” Trăng không là của riêng ông mà ông vẫn muốn bán vì ông quá khổ sở vì trăng!

Đối với bệnh nhân phong, tình trạng mất cảm giác xuất hiện ở một vài bộ phận trên cơ thể do dây thần kinh bị nhiễm trùng. Sau đó các bắp thịt tiêu đi, gân cốt co rút lại, khiến đôi tay co quắp. Ở mức độ nặng ngón tay ngón chân rụng dần. Ước vọng của họ rất đơn giản: Khỏi bệnh. Họ khổ cả thể lý lẫn tinh thần vì bị mọi người xa lánh, kỳ thị. Ngày nay, bệnh phong đã trị được, nhưng người ta vẫn “ngại” khi tiếp xúc với bệnh nhân phong.

Nếu có dịp đến Trại Phong Di Linh (Djiring), người ta có thể cảm thấy các bệnh nhân phong thật đáng thương. Họ có vẻ ít nói với vẻ ngần ngại lắm. Có lẽ họ không dám tin rằng người đối diện với họ không ác ý, vì trong tâm trí họ đã in sâu “ấn tượng xấu” rồi. Trại Phong Di Linh do ĐGM Cassaigne (1895-1973), thường được gọi thân thương là Cha Sanh, thuộc Hội Thừa Sai Balê, thành lập. Ngài đến Di Linh năm 1927, lập Trại Phong năm 1929. Ngài sinh ngày 30-01-1895 tại Grenade (Pháp), thụ phong linh mục ngày 19-02-1925, được bổ nhiệm làm giám mục chánh tòa Saigon, lễ tấn phong giám mục diễn ra tại Nhà Thờ Đức Bà ngày 24-6-1941. Ngài được mệnh danh là “Tông Đồ của Người Cùi.” Thật đúng với khẩu hiệu giám mục của ngài là “Caritas et Amor” – Bác Ái và Yêu Thương.

Từ xa xưa, bệnh phong đã xuất hiện. Thời Cựu Ước, Đức Chúa phán với hai ông Môsê và Aharon: “Khi trên da thịt người nào phát ra nhọt, lác hoặc đốm, và cái đó trở thành vết thương phong hủi, người ta sẽ đưa người ấy đến với tư tế Aharon hoặc với một trong các tư tế, con của Aharon.” (Lv 13:1-2) Tại sao vậy? Kinh Thánh giải thích: “Tư tế sẽ khám người ấy: nếu nhọt ở vết thương có màu trắng đỏ nhạt ở chỗ sói đầu hoặc sói trán, trông giống như phong hủi da thịt, người ấy bị phong hủi: người ấy ô uế. Tư tế sẽ tuyên bố người ấy là ô uế, nó bị vết thương ở đầu.” (Lv 13:43-44) Bệnh nhân mà hóa nạn nhân, bởi vì họ không chỉ khổ về thể lý mà còn khổ về tinh thần, có thể nói đó là điều sỉ nhục đối với họ. Thật khổ sở vô cùng!

Quả thật, thời đó người ta lập ra “quy chế người phong hủi” rất khắt khe và tàn nhẫn: “Người mắc bệnh phong hủi phải mặc áo rách, xoã tóc, che râu và kêu lên: ‘Ô uế! Ô uế!’ Bao lâu còn mắc bệnh thì nó ô uế; nó ô uế: nó phải ở riêng ra, chỗ ở của nó là một nơi bên ngoài trại.” (Lv 13:45-46) Ngày nay, cái quan niệm tàn nhẫn đó vẫn chưa thể “tẩy não” hoàn toàn được. Cũng là con người với đầy đủ nhân vị, nhân phẩm và nhân quyền, nhưng bệnh nhân phong chịu thiệt thòi vì bị rẻ rúng thái quá!

Nhìn những bệnh nhân cùi thật là đáng thương, thậm chí có người còn thấy sợ. Chứng phong cùi thể lý mà còn đáng quan ngại như vậy, chắc chắn phong cùi tâm linh còn đáng sợ và đáng thương hơn. Ai trong chúng ta cũng đã từng bị chứng “phong cùi” này, thế nhưng chúng ta thật diễm phúc vì được Đại Bác Sĩ Giêsu chữa trị. Thánh Vịnh gia nói: “Hạnh phúc thay, kẻ lỗi lầm mà được tha thứ, người có tội mà được khoan dung. Hạnh phúc thay, người Chúa không hạch tội, và lòng trí chẳng chút gian tà.” (Tv 32:1-2) Dạng diễm phúc này đôi khi chúng ta không để ý, nhưng thực sự là niềm hạnh phúc khôn tả, vì được Thiên Chúa chúc phúc và được ôm vào lòng.

Cảm nhận được như vậy thì chắc hẳn người ta không ngần ngại hoặc lần lữa đến với Lòng Chúa Thương Xót – Bí tích Hòa Giải: “Con đã xưng tội ra với Ngài, chẳng giấu Ngài lầm lỗi của con. Con tự nhủ: ‘Nào ta đi thú tội với Chúa’ và chính Ngài đã tha thứ tội vạ cho con.” (Tv 32:5) Và rồi không thể không chia sẻ với người khác về niềm vui thánh thiện đó: “Hỡi những người công chính, hãy vui lên trong Chúa, hãy nhảy mừng. Mọi tâm hồn ngay thẳng, nào cất tiếng hò reo!” (Tv 32:11) Chỉ cần thành tâm sám hối thì tội gì Ngài cũng bỏ qua hết cho chúng ta: “Lòng thương xót của Ta lớn hơn tội của con và toàn thế giới.” (Nhật Ký Thánh Faustina, #1485)

Thánh Cyril Giêrusalem nói: “Tội lỗi là sự dữ đáng kinh sợ, nhưng với người biết sám hối thì rất dễ chữa lành.” Thánh Catarina Siena phân tích: “Phạm tội là con người, nhưng ngoan cố trong tội là ma quỷ.” Có Chúa thì có tất cả, mất Chúa thì trắng đời.

Bất cứ người nào có Chúa thì không còn ham mê điều gì khác ngoài Chúa, và họ làm gì cũng chỉ muốn tôn vinh Ngài Đúng như Thánh Phaolô khuyên: “Dù ăn, dù uống, hay làm bất cứ việc gì, anh em hãy làm tất cả để tôn vinh Thiên Chúa. Anh em đừng làm gương xấu cho bất cứ ai, dù là cho người Do Thái hay người ngoại, hoặc cho Hội Thánh của Thiên Chúa; cũng như tôi đây, trong mọi hoàn cảnh, tôi cố gắng làm đẹp lòng mọi người, không tìm ích lợi cho riêng tôi, nhưng cho nhiều người, để họ được cứu độ.” (1 Cr 10:31-33) Người biết sống vì Chúa thì cũng biết vì tha nhân, bởi vì thước đo lòng mến Chúa là lòng yêu người. Vả lại, “ai nói yêu mến Chúa mà lại ghét tha nhân thì là kẻ nói dối.” (1 Ga 4:20) Ước gì mỗi chúng ta có thể nói được như Thánh Phaolô khi chúng ta tâm sự với người khác: “Anh em hãy bắt chước tôi, như tôi bắt chước Đức Kitô.” (1 Cr 11:1) Thế thì thật tuyệt!

Trình thuật Mc 1:40-45 (≈ Mt 8:1-4; Lc 5:12-16) nói về việc Đức Giêsu chữa người bị phong hủi. Hôm đó có một bệnh nhân phong đến gặp Ngài và quỳ xuống van xin: “Nếu Ngài muốn, Ngài có thể làm cho tôi được sạch.” Chữ “nếu” ở đây không phải là nghi ngờ, mà chỉ là “một cách nói” mà thôi. Chắc hẳn người này đã rất khổ sở vì chứng phong, khổ đủ thứ, và anh rất muốn được khỏi để không bị xã hội xa lánh, ruồng bỏ. Anh đến cầu xin với Chúa Giêsu, chứng tỏ anh vững tin Ngài là Đấng uy quyền. Anh tin thật chứ không mê tín dị đoan hoặc xin theo phong trào như nhiều người khác. Vấn đề quan trọng là niềm tin chân thành và vững vàng, vì điều đó như điều kiện ắt có và đủ để được Thiên Chúa thương xót.

Thật vậy, Chúa Giêsu nghe anh nói thì Ngài chạnh lòng thương, rồi giơ tay đụng vào anh và bảo: “Tôi muốn, anh sạch đi!” Thật hạnh phúc cho anh vì ước muốn của anh hoàn toàn hợp ý Chúa. Và ngay lập tức, chứng phong hủi biến khỏi anh. Anh đã được toại nguyện nhờ lòng tin chân thành và mạnh mẽ.

Tuy nhiên, Chúa Giêsu đã nghiêm giọng đuổi anh đi ngay, và bảo anh: “Coi chừng, đừng nói gì với ai cả, nhưng hãy đi trình diện tư tế, và vì anh đã được lành sạch, hãy dâng những gì ông Môsê đã truyền, để làm chứng cho người ta biết.” Ngài bảo anh “coi chừng” vì anh có nói ra cũng chẳng ai tin, những kẻ có quyền hành chỉ muốn tìm dịp để bắt giết Ngài, và cũng chưa đến giờ của Ngài. Nhưng làm sao anh ta có thể im lặng được khi sự sung sướng đang dâng cao, tất nhiên anh cũng muốn người khác biết anh đã sạch phong hủi, tức là anh muốn người ta không xa lánh và miệt khinh anh nữa. Vì thế, vừa ra khỏi đó thì anh bắt đầu rao truyền và tung tin ấy khắp nơi, đến nỗi Ngài không thể công khai vào thành nào được, mà phải ở lại những nơi hoang vắng ngoài thành.

Danh tiếng nổi như cồn, Chúa Giêsu có đi đâu thì người ta cũng tìm cho bằng được, bởi vì họ đã tận mắt thấy anh chàng phong cùi hôm nào đã khỏi hẳn. Vô cùng lạ lùng! Thế là dân chúng từ khắp nơi kéo đến với Ngài, đông như trẩy hội, như nước lũ chảy nhanh và mạnh. Không thể nào tưởng tượng nổi!

Là con người, ai cũng có những ước mơ, hoài bão, thậm chí là tham vọng. Dù ước vọng lớn hay nhỏ cũng là ước vọng – cho chính mình và cho người khác, nhất là cho những người thân yêu. Ước vọng có thể cao thượng, bình thường hoặc tầm thường, nhưng vẫn là ước vọng. Thi văn sĩ kiêm lý luận phê bình Samuel Johnson (1709-1784, Anh quốc) nhận định: “Mỗi người đều giàu có hay nghèo khổ tùy thuộc tỷ lệ giữa niềm ước vọng và sự thỏa mãn của mình.” Mức độ và ý hướng của ước vọng khác nhau tùy mỗi người, chắc hẳn biết “ái mộ những sự trên trời” là ước vọng tốt lành trong cuộc đời tín nhân.

Thánh Vịnh gia nói: “Ngài nghe thấy ước vọng của kẻ nghèo hèn; Ngài cho họ an lòng và lắng tai nghe họ, để bênh kẻ mồ côi và người bị áp bức, khiến cho kẻ mang thân cát bụi, chẳng còn khủng bố ai.” (Tv 10:17-18) Thiên Chúa biết rõ mọi ước vọng thầm kín của chúng ta, (Tv 38:10) bởi vì Ngài thấu suốt mọi sự. (1 Sb 28:9b; Gđt 8:14; Et 4:17d; Et 5:1a; 2 Mcb 6:30; 2 Mcb 7:35; 2 Mcb 9:5; 2 Mcb 12:22; 2 Mcb 15:2; G 28:27; Tv 139:2; Cn 16:2; Cn 21:2; Cn 24:12; Kn 1:6; Kn 7:23; Hc 23:19; Hc 42:20; Gr 10:12; Gr 11:20; Gr 20:12; 1 Cr 2:10; 1 Cr 12:4-6; 1 Ga 3:20)

Lạy Thiên Chúa chí nhân chí thánh, chúng con muốn sạch nhưng lại tự vấy bẩn đời mình, thậm chí còn ghê gớm hơn chứng bệnh phong, xin Ngài chữa lành chúng con. Xin hướng dẫn cách tiếp cận với những người hèn mọn trong xã hội, trong Giáo Hội, và dạy chúng con cách nâng dỡ họ theo khả năng của chúng con. Chúng con cầu xin nhân danh Thánh Tử Giêsu, Đấng Cứu Độ duy nhất của nhân loại. Amen.

TRẦM THIÊN THU

Không có nhận xét nào:

Đăng nhận xét